Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỀN MÕ, XÃ NGŨ PHÚC, HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Di tích Theo từ điển Tiếng Việt: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử" [36]. Như vậy, di tích được hiểu là dấu vết hoặc di vật của con người và những giai đoạn lịch sử đã qua còn hiện hữu đến tận ngày nay thì được gọi là di tích.
Ở Việt Nam, một di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Di tích lịch sử văn hóa Pháp lệnh di tích lịch sử năm 1984 lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm về di tích lích sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh. Theo đó, di tích lịch sử văn hóa được hiểu như sau: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [14]. Như vậy, pháp luật quan niệm di tích lịch sử là những di tích có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học, nghệ thuật và liên quan đến quá trình phát triển văn hoá, xã hội của đất nước.
Còn danh lam thắng cảnh là những khu vực có cảnh đẹp được mọi người biết đến và được thừa nhận rộng rãi. Tiếp đó, khái niệm di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh được Luật di sản văn hóa năm 2001 tiếp cận dươi khía cạnh là một thành tố của phạm trù di sản văn hóa và được hiểu: “Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học (Điều 4) [22]. 9 So sánh với khái niệm về di tích lịch sử, được đề cập trong Pháp lệnh di tích lịch sứ năm 1984 thì khái niệm di tích lịch sử, văn hoá dược xác định trong Luật di sản văn hoá mang tính bao quát, đầy đủ hơn. Điều này được thể hiện ở khía cạnh sau: Di tích lịch sử, văn hoá không chỉ là những công trình xây dựng, địa điểm mà còn bao gồm các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia của công trình, địa điểm đó [22].
* Hệ thống di vật Di vật là những hiện vật được lưu truyền lại của quá khứ, chúng có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học. Các di vật có mặt ở khắp mọi nơi, nó có thể đã từng gắn với các nhân vật, sự kiện lịch sử hoặc ghi dấu tiến trình phát triển của một địa phương, một đất nước hay nói rộng hơn cả là xã hội loài người ở một giai đoạn nhất định nào đó trong lịch sử. Hệ thống di vật cũng có thể có liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của một cá nhân, một sự kiện tiêu biểu trong tiến trình phát triển của lịch sử trên một địa bàn, địa phương cụ thể. Chúng có thể là các hiện vật đơn lẻ hay nhiều hiện vật tập hợp thành một bộ sưu tập với số lượng, kiểu dáng, kích cỡ, chủng loại… khác nhau [23].
* Hệ thống cổ vật Cổ vật là những hiện vật của quá khứ được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hóa, khoa học và có từ 100 tuổi trở lên. Chúng chứa đựng tinh hoa của bàn tay và khối óc con người kết tinh trong một đồ vật cụ thể với các chất liệu, hình dáng, kích thước, màu sắc và các phương pháp chế tác khác nhau. Cổ vật có thể là các hiện vật độc bản được chế tác bởi các cá nhân đã đi vào lịch sử, điều đó càng làm tăng giá trị của các cổ vật đó mà các hiện vật cùng loại không bao giờ có được. Do giá trị và mức độ quý hiếm của chúng mà cổ vật thường có giá trị kinh tế lớn; đôi khi, với một vài cổ vật đặc biệt chúng có thể trở thành bảo vật quốc gia, thành tài sản của quốc gia, dân tộc [23].
* Bảo vật quốc gia Bảo vật quốc gia là hiện vật của quá khứ lịch sử được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử văn hóa, 10 khoa học. Nó kết tinh thành quả của hoạt động lao động sáng tạo của con người trên một lĩnh vực cụ thể nhưng có giá trị lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên nhiều bình diện của đời sống xã hội. Những di vật hay hệ thống di vật có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc có thể được coi là bảo vật quốc gia. Chúng vừa có thể có giá trị lịch sử văn hóa, xã hội lớn vừa có thể có giá trị nghệ thuật, kinh tế lớn… Theo Luật di sản văn hóa, bảo vật quốc gia phải là những hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, thể hiện bằng các tiêu chí sau: Hiện vật nguyên gốc, độc bản; hình thức độc đáo; có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hóa, khoa học, là chứng tích của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất, là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại, là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia [22, tr.
Quản lý Thuật ngữ “quản lý” xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX. Tùy theo góc độ tiếp cận của từng ngành khoa học cũng như của người nghiên cứu mà thuật ngữ quản lý được hiểu theo những cách khác nhau, Theo nghĩa thông thường trong Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là "trông nom, chịu trách nhiệm về công việc" [36]. Nếu hiểu theo âm Hán Việt thì “quản” là lãnh đạo một việc, “lý” là trông nom, coi sóc. Theo quan niệm của Các Mác: Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá 11 nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó.
Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng [18]. Trên thực tế tồn tại nhiều cách lý cho giải thuật ngữ này. Thông thường, theo lý thuyết hệ thống quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… Do đó, có thể hiểu, quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức hoặc cá nhân. Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước.
Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Quản lý là hoạt động khách quan nảy sinh khi cần tập thể hoặc cá nhân nỗ lực để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Vì vậy, theo tác giả, hoạt động quản lý bao gồm một số yếu tố cơ bản sau: - Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bị quản lý bằng các công cụ với những phương pháp và cách thức thích hợp theo những nội dung, nguyên tắc nhất định. - Đối tượng bị quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy từng đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau.
- Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội. Tóm lại, các quan niệm trên đây đều xác định “quản lý” là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý với đối tượng bị 12 quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường tự nhiên và xã hội để hệ thống quản lý ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định. Quản lý di tích lịch sử văn hóa Quản lý di tích lịch sử văn hóa là một lĩnh vực hoạt động cụ thể của quản lý. Có thể hiểu đó là sự định hướng cùng những cách thức, chế tài để thực hiện, tổ chức điều hành việc bảo vệ, tu bổ, giữ gìn các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đông đảo cộng đồng, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.
Việc quản lý di tích di tích lịch sử văn hóa được thực hiện bởi các chủ thể quản lý là cơ quan quản lý có thẩm quyền, cộng đồng có di tích cùng khách thập phương đến chiêm bái,. tác động đến đối tượng chịu sự quản lý là các di tích bằng nhiều cách thức khác nhau. Đây là những hoạt động có ý nghĩa to lớn trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của di tích, phục vụ thiết thực mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Quản lý di tích lịch sử văn hóa là một trong những nguyên nhân khiến cho bức tranh văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng và đa dạng trong thống nhất.
Nội dung quản lý di tích lịch sử văn hóa Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa.