phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, luận văn được xây dựng thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý di tích, lễ hội và Tổng quan về di tích, lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý di tích và lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích và lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH, LỄ HỘI ĐỀN THỜ TRUNG TÚC VƢƠNG LÊ LAI 1.
Cơ sở lý thuyết về quản lý di tích, lễ hội 1. Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Di sản văn hóa Khái niệm di sản văn hóa có thể xác định được một cách thuận lợi từ khái niệm cơ bản về văn hóa. Như ta đã biết, văn hóa đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Nhưng xu hướng định nghĩa văn hóa theo tính giá trị và tính đặc trưng cho cộng đồng chủ thể sáng tạo đang được nhiều người chấp nhận nhất. Theo cách định nghĩa này thì: Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng nhất cho bản sắc của cộng đồng người, do cộng đồng con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vậy, di sản văn hóa chính là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Nó là bộ phận quan trọng nhất, tầng trầm tích dày nhất đã được thời gian thẩm định của một nền văn hóa cụ thể [22, tr.
Luật Di sản văn hóa (Di sản văn hoá) Việt Nam định nghĩa: “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [15, tr. Theo Công ước di sản thế giới thì “Di sản văn hoá là các di tích, các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay 13 liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học” [9, tr.
Năm 1972, UNESCO ban hành Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới, trong điều 1 đã quy định những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hóa” bao gồm: Di tích kiến trúc (monuments): Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học. Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): Các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà có, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học [37, tr. Luật Di sản văn hoá (2009) được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 điều 1 quy định: “Di sản văn hoá bao gồm Di sản văn hoá phi vật thể và Di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước CHXHCN Việt Nam” [27, tr. “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa có liên quan; có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [27, tr.
“Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật 14 chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [27, tr. Luật Di sản Văn hóa năm 2001, tại Điều 1 đã nêu rõ: "Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [26, tr. Đây có thể xem là khái niệm về DSVH được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay, hoàn toàn tương tự như khái niệm về DSVH được sử dụng trên thế giới. Điều đó cũng có nghĩa DSVH cũng là của cải, là tài sản quốc gia và mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn.
Theo đó qua thời gian và năm tháng nhiều di tích mà thế hệ cha ông ta để lại bị xuống cấp nghiêm trọng và có nguy cơ bị mai một, có những di tích biến mất vì nhiều nguyên nhân như: thiên tai, chiến tranh… Vì vậy, vấn đề cấp thiết đang đặt ra là nhanh chóng xây dựng các chính sách pháp lý để bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích, lễ hội ở trong nước, trong tỉnh và đền thờ Lê Lai nói riêng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương. Di tích; Di tích lịch sử - văn hóa + Di tích Theo Từ điển Hán Việt: “Di tích” có thể hiểu như sau: “Di”: là sót lại, rớt lại, để lại; “tích”: là tàn tích, dấu vết. Di tích là dấu vết còn lại của quá khứ [1, tr. Di tích là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu giữ lại [1, tr.
Từ những khái niệm trên có thể thấy, sự xuất hiện của di tích luôn gắn liền với một giai đoạn lịch sử nhất định. Di tích tồn tại theo thời gian và luôn có sự biến đổi, hiếm còn sự nguyên vẹn như vốn có ban đầu. Di tích thường 15 gắn liền với không gian vật chất cụ thể, không thể dịch chuyển hoặc không được tùy tiện thay đổi. Chính bởi những điểm đặc biệt trên, di tích rất cần được bảo vệ bằng hệ thống cơ sở pháp luật.
+ Di tích lịch sử - văn hóa Trong Luật Hiến chương quốc tế, về Bảo tồn và Trùng tu di tích và di chỉ được thông qua tại Đại hội quốc tế lần thứ 2, các kiến trúc sư và kỹ thuật gia về di tích lịch sử họp tại Venice (1964) được ICOMOS chấp nhận năm 1965: Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử, khái niệm này không chỉ áp dụng đối với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [8, tr. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình khiêm tốn đã hội tụ được các ý nghĩa văn hóa của quá khứ. Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, di tích lịch sử văn hóa được hiểu là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [39, tr. Theo Luật DSVH do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2001 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình hay địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [27, tr.
Ở đây cũng có thể hiểu rộng ra các công trình xây dựng hay địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố, gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. 16 Từ các khái niệm quốc tế, quốc gia nêu trên, đối chiếu với đối tượng quản lý là di tích đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai, hiện nay đền Lê Lai là một công trình có lối kiến trúc 2 tầng đặc biệt liên quan đến tín ngưỡng thờ nhân vật có thật trong lịch sử đã được Nhà nước công nhận di tích nằm trong quần thể khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh. Tại Khoản 1, Điều 28 của Luật DSVH sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH quy định: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [38, tr. Từ các tiêu chí quy định trong Luật DSVH, di tích đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai được đối chiếu để xếp hạng, đồng thời công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị phản ánh đời sống tín ngưỡng của người dân cả vùng Mường nơi đây.