phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, ài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm: hương 1. Những vấn đề chung về quản lý lễ hội và lễ hội truyền thống chùa Hào Xá hương 2. hực trạng quản lý lễ hội truyền thống chùa Hào Xá hương 3. iải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống chùa Hào Xá 9 hương 1 Ữ VẤ ỀC VỀ Q Ả LÝ LỄ Ộ VÀ LỄ Ộ YỀ Ố ÙA ÀO XÁ 1.
ột số khái niệm 1. Lễ hội và lễ hội truyền thống 1. Lễ hội Lễ hội là những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng được hình thành và phát triển ở những điều kiện lịch sử, địa lý, kinh tế nhất định, gắn với những đặc điểm văn hóa cộng đồng. heo từ nguyên, lễ hội là cụm từ ghép Hán - iệt được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau gồm hai phần là phần lễ và phần hội.
ào uy Anh trong Hán Việt từ điển cho biết, lễ là “cách bày tỏ kính ý hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý [1, tr. ới cách hiểu đó, có thể thấy, “Lễ” là phần tín ngưỡng (tế, rước.) gồm những nghi thức tâm linh được tổ chức trong lễ hội. Những nghi thức mang tính thiêng này thể hiện sự tri ân, tôn kính với thánh, thần được coi là cốt lõi, quan trọng nhất của lễ hội. “Hội” là những sinh hoạt văn hóa cộng đồng, được nảy sinh, tích hợp bảo lưu trong lễ hội.
à như vậy, lễ hội mang tính cộng đồng, gắn với những sắc thái, đặc điểm khác nhau của mỗi vùng, miền. ề quan điểm, định nghĩa về lễ hội theo: iều 4, Luật Di sản văn hóa thì lễ hội được xem là di sản văn hóa phi vật thể. Theo iáo sư Ngô ức hịnh thì: “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là tấm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc” [44, tr.
ũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước” [25, tr. ác giả oàn ăn húc lý giải lễ hội như sau: Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội, hay tự 10 nhiên, tưởng tượng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điển rộng lớn, và theo phương thức thẩm mỹ, tùy thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ. Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện tự nhiên xã hội nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ [12, tr. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về lễ hội, nhưng tất cả đều khẳng định lễ hội là những sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng, bao gồm phần lễ và phần hội.
Phần lễ là hệ thống những hành vi, nghi thức, tác động nhằm biểu đạt sự thành kính với thánh thần, phản ánh ước nguyện tâm linh của cộng đồng. Phần hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật mang tính tập thể cộng đồng, liên quan đến tín ngưỡng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cuộc sống. Như vậy, lễ hội được trao truyền từ đời này sang đời khác. Qua lễ hội, cộng đồng muốn thể hiện sự thành kính, biết ơn đấng thần linh được thờ phụng.
ồng thời lễ hội còn thể hiện sự cố kết cộng đồng gắn với những tục tập riêng. Lễ hội truyền thống ruyền thống là khái niệm chỉ những gì hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được truyền từ đời này sang đời khác. Như vậy, những lễ hội được tổ chức qua nhiều năm từ thế hệ này sang thế hệ khác thì được gọi là lễ hội truyền thống. ác thế hệ nối tiếp nhau duy trì bảo tồn, phát huy lễ hội theo hướng tích cực phù hợp với đời sống thực tại.
ây là một thành tố văn hóa quan trọng mang tính lịch sử của con người qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội và là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến nhằm thỏa mãn nhu cầu về văn hóa tinh thần, tín ngưỡng tâm linh của một nhóm người hay một cộng đồng dân cư. Như vậy, lễ hội truyền thống có từ lâu đời, tồn tại cho đến ngày nay. Nó được sáng tạo, lưu truyền theo phương thức dân gian hoặc được phục 11 dựng lại và lưu truyền trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán. ến nay, theo quan niệm của nhiều người thì những lễ hội dân gian được hình thành trước năm 1945 đều được coi là lễ hội truyền thống.
Di sản văn hóa phi vật thể và các tiêu chí lựa chọn Theo Luật di sản văn hoá 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. ề tiêu chí lựa chọn: ể trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được đưa vào anh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được quy định tại iều 5 Nghị định 98/2010/N -CP hướng dẫn Luật di sản văn hóa và Luật di sản văn hóa sửa đổi như sau: 1. ó tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương. Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ.
ó khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài. ược cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ. Quản lý và quản lý lễ hội 1. Quản lý huật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau.
heo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. heo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc. Theo nghĩa thông thường, phổ biến thì: "Quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra" [32, tr. 12 ể tồn tại và phát triển, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội con người đều phải tuân thủ và chịu sự quản lý nào đó.
Nhằm thực hiện mục tiêu chung, bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, sinh hoạt tập thể đã làm nảy sinh các hoạt động quản lý. ác hoạt động này diễn ra ở mọi tổ chức, từ đơn giản đến phức tạp, từ phạm vi nhỏ đến lớn. Xã hội càng phát triển, yêu cầu quản lý càng cao, vai trò của quản lý càng tăng lên. heo tác giả ao ức Hải thì: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Sách Hán Việt từ điển hiện đại cho rằng: “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đã đề ra” [26, tr. huật ngữ quản lý ở nước ta cũng thường được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của con người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới. Như vậy, quản lý là hoạt động có chủ đích, tác động trực tiếp, liên tục đến cả chủ thể quản lý và khách thể quản lý về nhiều mặt với một hệ thống chính sách, quy tắc và phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. rong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra.
rong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng quản lý. húng ta cần phân biệt giữa khái niệm quản lý mang tính thông thường của một tổ chức, đơn vị nào đó. với quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, thông qua các văn bản luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hành vi của con người.
Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của cơ quan trong bộ máy nhà nước. Quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà 13 nước khi cần. ây là điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước với quản lý khác. Tác giả rần Minh Hương, trong sách Luật hành chính viết: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan nhà nước hành pháp từ rung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn những nhu cầu hàng ngày của nhân dân [20, tr.
Quản lý lễ hội Quản lý lễ hội là quản lý các hoạt động của lễ hội phù hợp với chủ trương đường lối, chính sách pháp luật của ảng và Nhà nước. Mặt khác, quản lý còn nhằm củng cố, bổ sung hoàn thiện hệ thống chính sách, luật pháp có liên quan, mục đích sao cho lễ hội phát triển theo đúng định hướng phát triển của đất nước và phù hợp với quy luật của thời đại. ồng thời việc quản lý cũng nhằm làm cho lễ hội vận hành theo đúng với thuần phong, mỹ tục và mang lại lợi ích cho cộng đồng. ể quản lý tốt lễ hội cần có sự hỗ trợ đắc lực của các mặt quản lý khác như: quản lý di tích, quản lý đất đai, quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường… nơi diễn ra lễ hội.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành trong công tác quản lý sẽ tạo hiệu quả an toàn, lành mạnh và tiết kiệm khi tổ chức lễ hội.