Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Hải Dương là một trong những cái nôi văn hóa lâu đời của châu thổ Bắc Bộ với hơn 2.000 di tích lịch sử - văn hóa và trên 700 lễ hội dân gian được duy trì hàng năm. Nổi bật trong hệ thống di sản đó là lễ hội truyền thống chùa Hào Xá (Bạch Hào tự) tại xã Thanh Xá, huyện Thanh Hà. Ngôi chùa được khởi dựng từ năm 1011 dưới triều vua Lý Thái Tổ, gắn liền với di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia xếp hạng năm 1993 và di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ghi danh năm 2015. Lễ hội chùa Hào Xá diễn ra vào dịp đầu xuân từ ngày mùng 4 đến mùng 6 tháng Giêng âm lịch, tôn vinh Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông cùng Tam vị Thành hoàng có công đánh giặc Nguyên Mông và lập làng dạy nghề dệt tằm.

Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và sự gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu hưởng thụ văn hóa tâm linh, công tác tổ chức và quản lý lễ hội chùa Hào Xá nảy sinh nhiều thách thức phức tạp. Xu hướng thương mại hóa, áp lực về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và việc gìn giữ tính tôn nghiêm của nghi lễ cổ truyền đặt ra yêu cầu cấp thiết về một cơ chế quản lý khoa học. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng quản lý lễ hội chùa Hào Xá giai đoạn 2015 – 2019, phân tích sâu sự phối hợp giữa 4 chủ thể quản lý chính nhằm đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng. Nghiên cứu hướng đến mục tiêu nâng cao 35% hiệu quả quản trị nguồn lực xã hội hóa, bảo tồn 100% các giá trị diễn xướng dân gian truyền thống và gia tăng tỷ lệ hài lòng của du khách thập phương lên trên 85%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Quản lý văn hóa hiện đại kết hợp lý thuyết Bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng làm nền tảng phân tích. Mô hình nghiên cứu tập trung vào cơ chế đồng quản lý (co-management) giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng dân cư bản địa. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Lễ hội truyền thống: Hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phản ánh niềm tin tín ngưỡng, cấu thành bởi hai yếu tố gắn bó hữu cơ là phần lễ trang nghiêm và phần hội cộng đồng.
  2. Di sản văn hóa phi vật thể: Sản phẩm tinh thần gắn liền với không gian văn hóa lịch sử theo quy định tại Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị định 98/2010/NĐ-CP.
  3. Quản lý nhà nước về lễ hội: Quá trình các cơ quan có thẩm quyền sử dụng công cụ pháp luật, quy chuẩn và chính sách hành chính nhằm định hướng, điều tiết và giám sát các hoạt động lễ hội theo đúng nếp sống văn minh.
  4. Xã hội hóa hoạt động lễ hội: Cơ chế huy động sự tham gia đóng góp tự nguyện về vật chất, trí tuệ và nhân lực của mọi tầng lớp nhân dân để bảo tồn di sản.

Khung pháp lý được rà soát chặt chẽ dựa trên Chỉ thị số 41-CT/TW năm 2015 của Ban Bí thư, Thông tư 15/2015/TT-BVHTTDL và Nghị định 110/2018/NĐ-CP về quản lý và tổ chức lễ hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ 70 đến 80 văn bản quy phạm và hướng dẫn chuyên môn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương ban hành hàng năm, kết hợp hồ sơ di tích quốc gia năm 1993 và hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể năm 2011. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phỏng vấn bán cấu trúc.

Tác giả thực hiện khảo sát trên cỡ mẫu 120 đối tượng bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện, phân bổ gồm: 15 cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện và xã, 45 bô lão cùng đại diện ban khánh tiết của 10 dòng họ lớn tại địa phương, và 60 du khách tham dự lễ hội. Phương pháp phân tích định tính kết hợp so sánh đối chiếu được lựa chọn vì tính chất đặc thù của công tác quản lý di sản, giúp làm rõ các mối quan hệ đa chiều giữa quản lý hành chính và thực hành tín ngưỡng tâm linh mà số liệu thống kê đơn thuần không thể lột tả trọn vẹn. Timeline nghiên cứu được triển khai liên tục trong thời gian 24 tháng, từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 6 năm 2019, bao quát trọn vẹn 3 kỳ tổ chức lễ hội thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế giai đoạn 2015 – 2019 ghi nhận các kết quả nổi bật trong công tác quản lý lễ hội chùa Hào Xá:

  • Cơ cấu bộ máy quản lý: Ban tổ chức lễ hội được thành lập định kỳ với 100% nhân sự hoạt động kiêm nhiệm. Cơ chế chỉ đạo từ Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thanh Hà đến UBND xã Thanh Xá đạt sự thống nhất cao, song khoảng 65% khối lượng công việc chuẩn bị dồn dập vào tháng 12 âm lịch, tạo áp lực lớn cho cán bộ chuyên trách cấp xã.
  • Nguồn lực xã hội hóa: 100% kinh phí tổ chức phần hội (trung bình từ 150 đến 200 triệu đồng mỗi mùa lễ hội) được đóng góp từ nguồn tự nguyện của nhân dân và 10 dòng họ trong xã (Quách Trung, Quách Đại, Quách Đình, họ Mạc, họ Hoàng, họ Cao, họ Nguyễn Văn, Nguyễn Gia, Nguyễn Như, họ Phạm). Hơn 300 người dân địa phương trực tiếp tham gia vào các đội rước, đội tế và đội bơi chải.
  • Bảo tồn nghi lễ và trò diễn dân gian: Phục dựng thành công 100% các nghi thức truyền thống như lễ rước sắc phong, dâng cỗ chay tinh khiết và hội thi bơi 3 chải (Đông, Đoài, Nam) trên sông Cửa Chùa với 18 đến 20 tay chèo mỗi thuyền. Các hủ tục không phù hợp vệ sinh trước năm 1993 đã được loại bỏ hoàn toàn.
  • Tình trạng quá tải hạ tầng dịch vụ: Trong các ngày cao điểm (mùng 5 và mùng 6 tháng Giêng), lễ hội đón trên 5.000 lượt khách mỗi ngày. Khu vực bãi đỗ xe và không gian bố trí dịch vụ hàng quán chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu thực tế, dẫn đến hiện tượng ùn tắc cục bộ khoảng 30% các tuyến đường trục dẫn vào di tích.

Thảo luận kết quả

Thành công trong việc duy trì sức sống bền vững của lễ hội chùa Hào Xá bắt nguồn từ sự cố kết cộng đồng làng xã sâu sắc của cư dân Hạ Hào xưa. Lòng tự hào về công đức của Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông và Tam vị Thành hoàng là động lực nội sinh giúp người dân tự nguyện trao truyền các giá trị văn hóa qua nhiều thế hệ.

Tuy nhiên, khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu quản lý lễ hội đền Kiếp Bạc hay chùa Côn Sơn, quy mô tổ chức tại chùa Hào Xá mang tính chất quản lý cấp cơ sở điển hình. Mức độ tham gia tự quản của cộng đồng tại chùa Hào Xá cao hơn khoảng 25% so với các di tích quốc gia đặc biệt, nhưng tính chuyên nghiệp trong quản lý nguồn thu công đức và quy hoạch không gian dịch vụ còn nhiều bất cập. Các dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện cơ cấu nguồn thu xã hội hóa (70% từ dòng họ địa phương, 30% từ khách thập phương) và bảng ma trận đánh giá năng lực điều hành thực tế của Ban tổ chức. Việc thiếu hụt quy hoạch tổng thể dài hạn là nguyên nhân chính khiến không gian cảnh quan chùa chính, nghè và sông Cửa Chùa chưa phát huy tối đa giá trị du lịch văn hóa bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được kiến nghị thực hiện:

  1. Kiện toàn bộ máy và hoàn thiện quy chế quản lý: UBND xã Thanh Xá chủ trì ban hành Quy chế tổ chức lễ hội chi tiết, phân định rõ quyền hạn giữa Ban quản lý di tích và đại diện 10 dòng họ; tổ chức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ quản lý văn hóa cho 100% thành viên Ban tổ chức trước quý 4 năm 2020.
  2. Mở rộng quy hoạch không gian và hạ tầng kỹ thuật: UBND huyện Thanh Hà phê duyệt đề án mở rộng 3.000 m2 bãi đỗ xe tập trung; quy hoạch 100% các quầy hàng dịch vụ, ăn uống và đồ lưu niệm vào khu vực riêng biệt, cách tường bao khu di tích tối thiểu 50 mét, hoàn thành trong lộ trình 2020 – 2022.
  3. Số hóa quản lý tài chính và truyền thông di sản: Ban tổ chức lễ hội lắp đặt hệ thống tiếp nhận công đức tự động qua mã thanh toán điện tử, công khai 100% số liệu thu chi trên bảng tin công cộng; phối hợp Đoàn thanh niên xây dựng các video ngắn giới thiệu hội thi bơi chải và bệ đá hoa sen thời Trần, đạt mục tiêu tối thiểu 10.000 lượt tiếp cận trên nền tảng số mỗi mùa hội từ năm 2021.
  4. Tăng cường thanh tra an ninh trật tự và bảo vệ môi trường: Công an xã Thanh Xá thành lập tổ tự quản an ninh 15 người tuần tra liên tục 24/24 giờ trong 3 ngày hội, loại bỏ 100% hiện tượng chèo kéo đổi tiền lẻ; bố trí bổ sung 20 thùng rác phân loại dọc bờ sông Cửa Chùa nhằm bảo đảm cảnh quan môi trường sinh thái.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương cùng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thanh Hà sử dụng tài liệu làm căn cứ xây dựng chính sách quản lý và phân cấp bảo tồn di sản phi vật thể cấp cơ sở.
  • Chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích: UBND xã Thanh Xá và các ban khánh tiết tại các làng xã đồng bằng Bắc Bộ áp dụng trực tiếp quy trình tổ chức lễ hội văn minh, bài bản và kinh nghiệm vận động nguồn lực xã hội hóa từ các dòng họ.
  • Học viên, sinh viên và giảng viên chuyên ngành: Người học các ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Văn hóa học tham khảo phương pháp điền dã dân tộc học, kỹ thuật phân tích số liệu sơ cấp và khung lý thuyết đồng quản lý di sản.
  • Chuyên gia nghiên cứu lịch sử và doanh nghiệp lữ hành: Các nhà nghiên cứu lịch sử thời Trần và các công ty du lịch khai thác tư liệu diễn xướng sông nước để xây dựng sản phẩm tour trải nghiệm văn hóa tâm linh đặc sắc tại Hải Dương.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội truyền thống chùa Hào Xá thờ phụng những nhân vật lịch sử nào? Lễ hội kết hợp giữa nghi lễ Phật giáo và tín ngưỡng Thành hoàng, tưởng niệm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông – Đệ nhất tổ thiền phái Trúc Lâm và Tam vị Thành hoàng làng: Nguyễn Danh Nguyên, Nguyễn Danh Quang, Lý Đình Khuê. Đây là ba vị danh tướng thời Trần có công đánh đuổi giặc Nguyên Mông và dạy dân làng Hào Xá nghề nông, trồng dâu, nuôi tằm.

Lễ hội chùa Hào Xá được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào thời gian nào? Lễ hội chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo quyết định ban hành năm 2015. Sự kiện này khẳng định giá trị lịch sử lâu đời hơn 1.000 năm của ngôi chùa khởi dựng năm 1011 và bảo tồn nguyên vẹn bệ đá hoa sen thời Trần quý hiếm.

Phần hội của chùa Hào Xá có những trò diễn dân gian đặc sắc nào? Nét độc đáo nhất là hội thi bơi 3 chải trên dòng sông Cửa Chùa giữa 3 giáp Đông, Đoài, Nam với 18 đến 20 vận động viên mỗi thuyền, tái hiện hào khí Đông A. Bên cạnh đó, lễ hội còn có trò thi nấu cơm trên thuyền tròng trành, hội bắt vịt trên sông và trò chơi dân gian móc trạch bằng củ chuối gọt tròn trong hố bùn.

Phương pháp nghiên cứu nào được tác giả sử dụng chủ đạo trong luận văn? Luận văn kết hợp phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp với điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu 120 đối tượng (15 cán bộ, 45 đại diện dòng họ, 60 du khách). Cách tiếp cận này giúp đánh giá toàn diện cả phương diện quản lý hành chính nhà nước lẫn tâm thức thực hành tín ngưỡng của nhân dân địa phương.

Giải pháp nào giúp khắc phục triệt để tình trạng thương mại hóa tại lễ hội? Giải pháp then chốt là quy hoạch lại 3.000 m2 mặt bằng dịch vụ tập trung cách xa khu nội tự ít nhất 50 mét, kết hợp số hóa quy trình quản lý tiền công đức và lắp đặt camera giám sát. Việc duy trì đội an ninh tự quản 15 người sẽ chấm dứt tình trạng đổi tiền lẻ hưởng chênh lệch và kinh doanh tự phát lấn chiếm không gian thiêng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống cấp cơ sở.
  • Đánh giá chân thực thực trạng quản lý lễ hội chùa Hào Xá giai đoạn 2015 – 2019 với dữ liệu điền dã từ 120 mẫu khảo sát.
  • Khẳng định vai trò quyết định của 10 dòng họ và cộng đồng dân cư trong việc bảo tồn 100% các nghi thức diễn xướng độc đáo.
  • Nhận diện rõ các điểm nghẽn về tính kiêm nhiệm của bộ máy quản lý, hạ tầng bãi đỗ xe và nguy cơ thương mại hóa.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với lộ trình triển khai đến năm 2022 và định hướng đến năm 2025.

Công trình đóng góp một mô hình mẫu về bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng cho các di tích làng xã châu thổ sông Hồng. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý văn hóa quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại thư viện chuyên ngành để ứng dụng vào công tác thực tiễn.