Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động du lịch đóng vai trò là một ngành kinh tế quan trọng, trong đó du lịch văn hóa là nền tảng đáp ứng nhu cầu nhận thức, trải nghiệm tâm linh và giáo dục truyền thống lịch sử. Tỉnh Khánh Hòa sở hữu tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú; bên cạnh thế mạnh nổi trội về biển đảo, tài nguyên du lịch nhân văn đang ngày càng được quan tâm đầu tư. Trong hệ thống di tích văn hóa - lịch sử tại địa phương, quần thể Tháp Bà Po Inư Nagar (tọa lạc trên đồi Cù Lao, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang) là điểm đến tiêu biểu, gắn liền với đời sống tâm linh của cộng đồng người Chăm và người Việt ở Nam Trung Bộ. Cả công trình kiến trúc Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà đều đã được Nhà nước xếp hạng di sản cấp quốc gia. Tuy nhiên, công tác khai thác tiềm năng của quần thể di tích và lễ hội phục vụ phát triển du lịch tại địa phương vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa phát huy tối đa giá trị di sản một cách bền vững. Khóa luận tốt nghiệp ngành Văn hóa Du lịch của tác giả Nguyễn Thu Linh (Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng, năm 2018) được thực hiện nhằm phân tích thực trạng này và tìm kiếm các giải pháp khai thác phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là khảo cứu di tích Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà dưới góc độ tài nguyên du lịch văn hóa, đánh giá thực trạng hoạt động khai thác du lịch, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác phục vụ phát triển du lịch thành phố Nha Trang theo hướng bền vững.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định trong văn bản giao đề tài bao gồm 5 nội dung:
- Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở của người Chăm.
- Giới thiệu quần thể di tích Tháp Bà từ lịch sử hình thành, giá trị kiến trúc, giá trị nghệ thuật đến giá trị tâm linh.
- Trình bày lịch sử hình thành và phát triển của Lễ hội Tháp Bà.
- Phân tích và đánh giá thực trạng khai thác Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà trong hoạt động du lịch những năm gần đây (giai đoạn 2013 - 2018).
- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà phục vụ cho sự phát triển du lịch tại Nha Trang.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Di tích lịch sử - kiến trúc Tháp Bà Po Inư Nagar và di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội Tháp Bà tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Phạm vi nội dung: Hoạt động khai thác du lịch văn hóa đối với di tích và lễ hội Tháp Bà; các giải pháp định hướng quản lý, bảo tồn và phát triển sản phẩm du lịch.
- Phạm vi không gian: Quần thể di tích Tháp Bà thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Phạm vi thời gian: Tìm hiểu thực trạng hoạt động khai thác du lịch tại di tích trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng khung lý thuyết của chuyên ngành du lịch học, tiếp cận di tích và lễ hội dưới góc độ tài nguyên du lịch nhân văn, sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh và mối quan hệ giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch. Đề tài sử dụng các khái niệm về quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa (acculturation) giữa cộng đồng Chăm và người Việt. Về mặt pháp lý và cứ liệu lịch sử, công trình dựa trên Quyết định công nhận Di tích cấp Quốc gia năm 1979 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); hệ thống sắc phong của các vua triều Nguyễn ban phong cho Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi là Thượng đẳng thần; các bản dập văn bia minh văn Chăm cổ và văn bia chữ Hán - Nôm do Phan Thanh Giản soạn thảo năm 1856.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập tư liệu thư tịch lịch sử, các công trình nghiên cứu dân tộc học, tôn giáo học, văn hóa Chăm và các báo cáo ngành du lịch; sau đó phân loại, chọn lọc để phục vụ cho các luận điểm trong khóa luận.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp: Thống kê số liệu lượng khách du lịch, số đoàn hành hương; phân tích các cấu trúc không gian kiến trúc và so sánh các nghi thức tế lễ cổ truyền của người Chăm với nghi lễ của người Việt; tổng hợp dữ liệu làm cơ sở đề xuất giải pháp.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm ba nhóm chính:
- Nguồn sử liệu thành văn và văn bia: Sử liệu cổ của Việt Nam và Trung Quốc về vương quốc Chăm Pa; 28 đơn vị minh văn khắc chữ Phạn và chữ Chăm cổ tại di tích; văn bia chữ Hán - Nôm và bia quốc ngữ tại di tích Tháp Bà.
- Nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên ngành: Các công trình khảo cứu về lịch sử văn hóa Chăm Pa của các học giả (như Ngô Văn Doanh, Po Dharma, Lê Thành Khôi...).
- Nguồn dữ liệu thực tiễn: Báo cáo số liệu về lượt khách và hoạt động lữ hành tại địa phương, kết hợp thông tin ghi nhận trong quá trình thực tập tốt nghiệp tại Công ty TNHH Du lịch vận tải Bảo An.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Giới thiệu tổng quan về tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở và Tháp Bà Nha Trang
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lịch sử, dân tộc học và kiến trúc di tích qua ba nội dung chính:
- Khái quát về cộng đồng người Chăm ở Việt Nam: Vương quốc Chăm Pa tồn tại độc lập qua các thời kỳ từ năm 192 (thời kỳ Lâm Ấp) đến năm 1832 (khi vua Minh Mạng sáp nhập Thuận Thành Trấn vào bản đồ Đại Nam), trải qua các giai đoạn Hoàn Vương quốc (757 - 859), Chiêm Thành quốc (875 - 1471) và Panduranga (1471 - 1832). Dân tộc Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian). Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chăm tại Việt Nam có 161.729 người, cư trú trên 56 tỉnh thành, phân bố thành ba nhóm chính: Chăm H'roi (khoảng 20.000 người ở Bình Định, Phú Yên), Đông Chăm (khoảng 98.000 người ở Ninh Thuận, Bình Thuận, gồm hai nhánh Chăm Ahiêr và Chăm Awal), và Tây Chăm (khoảng 26.000 người ở An Giang, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh). Đời sống kinh tế Chăm Pa kết hợp nông nghiệp lúa nước, làm thủy lợi, khai thác hải sản, làm muối, chế biến nước mắm và các nghề thủ công nổi tiếng như gốm nặn tay nung lộ thiên, dệt lụa tơ tằm, kim hoàn. Cơ cấu tổ chức xã hội theo làng (Palei Cam, quy mô 300 - 400 hộ) dưới sự điều hành của Trưởng làng (Po Palei) và Hội đồng phong tục; dòng họ theo chế độ mẫu hệ, gìn giữ hộp Atâu đựng đồ lễ tổ tiên và chịu sự điều hành của Akauk Guăp.
- Tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở Po Inư Nagar: Po Inư Nagar được tôn kính là người Mẹ xứ sở sáng lập vương quốc, người tạo ra cây cối, lúa gạo và dạy dân cấy cày, dệt vải. Theo truyền thuyết, Bà sinh ra từ mây trời và bọt biển, giáng thế tại bến sông Yjatran xứ Kauthara; có 97 người chồng (trong đó Po Yan Amo uy quyền nhất) và sinh 38 người con gái. Quá trình tiếp xúc Ấn giáo đã đồng nhất Po Inư Nagar với nữ thần Uma (vợ thần Shiva) thành Bhagavati vari. Khi người Việt tiếp quản vùng đất Khánh Hòa từ năm 1653, tín ngưỡng này được tiếp biến thành tục thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu gắn với truyền thuyết núi Đại An, được các vua triều Nguyễn ban sắc phong Thượng đẳng thần. Người Chăm tổ chức 4 nghi lễ lớn hàng năm dâng cúng Nữ thần: Lễ Péhmbang yang (mở cửa tháp vào tháng Giêng lịch Chăm), Lễ Yuer yang (cầu đảo vào tháng 4), Lễ Katé (tháng 7) và Lễ Cambur (lễ cúng chính thức vào tháng 9).
- Quần thể di tích Tháp Bà Po Inư Nagar: Tọa lạc trên đồi Cù Lao cao 10 - 12m tại cửa sông Cái. Di tích có niên đại xây dựng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII, xếp hạng di tích quốc gia năm 1979. Di tích từng trải qua các đợt trùng tu lớn: người Pháp tu sửa vào thập niên 1930, Nhà nước tu bổ vào thập niên 1990 và đợt trùng tu tháp Nam năm 2010. Mặt bằng di tích gồm khu vực Tiền đình (Mandapa) và Khu đền tháp phía trên gò đồi. Mandapa gồm 4 hàng cột gạch nung (10 cột lớn bên trong, 12 cột nhỏ hình bát giác bên ngoài) có lỗ mộng đỡ mái nhẹ; vết tích tam cấp 4 bậc (cao 1,20m, rộng 1,40m) và lối đi dài 7,40m tạo thành trục thần đạo thẳng từ Cổng - Mandapa - Tháp Chính. Khu đền tháp phía trên hiện còn lại 4 công trình kiến trúc chính và nền móng của 2 tháp cổ phía sau.
| Tên công trình |
Chiều cao |
Niên đại |
Vị thần thờ tự |
Đặc điểm kiến trúc và điêu khắc tiêu biểu |
| Tháp Đông Bắc (Tháp Chính) |
~23m |
Xây dựng 813 - 817; dựng lại giữa TK XI |
Po Inư Nagar / Uma (Thiên Y Thánh Mẫu) |
Mái 3 tầng giật cấp mô phỏng núi Meru; trang trí linh vật voi, ngỗng, dê. Vòm cửa gắn phù điêu Shiva 4 tay múa cưỡi bò Nandin; bên trong đặt tượng Mẫu trên bệ Snana-droni và rãnh thoát nước Soma-sutre. |
| Tháp Nam (Tháp Ông) |
18m |
Thế kỷ XIII |
Thần Shiva (chồng Thiên Y A Na) |
Quy mô lớn thứ hai; đế và thân theo thức truyền thống nhưng mái thu gọn thành một tầng chóp kéo dài, đỉnh đặt trụ Linga. |
| Tháp Đông Nam |
7,1m |
Thế kỷ XI - XII |
Thần Skandha (ông bà Tiều) |
Quy mô nhỏ nhất; cấu trúc xây dựng đơn giản, hệ mái xây uốn cong hình yên ngựa (hình thuyền) đặc trưng vùng hải đảo Đông Nam Á. |
| Tháp Tây Bắc |
9m |
Xây năm 817, trùng tu thế kỷ XIII |
Thần Ganesha (Cô, Cậu) |
Giữ được nét kiến trúc khá nguyên vẹn; mái thuyền trang trí họa tiết rắn Nagar; các ô cửa giả chạm nổi chim thần Garuda, thần thời gian Kala và nữ thần cưỡi voi. |
Tại di tích còn lưu giữ 28 đơn vị minh văn Chăm cổ; văn bia do Phan Thanh Giản soạn thảo năm 1856 (năm Tự Đức thứ 9), bia đá do 8 vị quan lập năm 1871, bia quốc ngữ dựng năm 1972 và bia giới thiệu dựng năm 2010.
Chương 2. Thực trạng khai thác du lịch ở Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà - Nha Trang
Chương 2 tập trung phân tích tiến trình tổ chức lễ hội và thực trạng hoạt động du lịch tại di tích:
- Lễ hội Tháp Bà Po Inư Nagar: Diễn ra định kỳ từ ngày 20 đến 23 tháng 3 Âm lịch hàng năm (ngoài ra còn có các ngày vía mồng 8, 18, 28 âm lịch hàng tháng và ngày thay y các tháng 3, 7, 12 âm lịch). Đồng bào Chăm từ Ninh Thuận, Bình Thuận thường hành hương theo từng Palei hoặc dòng họ; dâng cúng mâm lễ gồm gà hoặc dê hiến sinh tại chỗ, nến sáp ong đen, bánh hạt nổ nếp, cơm trong thau - hốp, canh thập cẩm và quả rửa bằng nước lọc qua cát lồi.
| Thời gian tổ chức |
Tên nghi lễ / Hoạt động |
Địa điểm & Nội dung thực hiện |
| Ngày 20/3 Âm lịch |
Lễ thay y (12h00 - 13h00) |
Tiến hành tại tháp Chính; tắm tượng bằng rượu pha nước thơm 5 loại hoa, thay trang phục mũ miện mới dâng cúng. |
|
Lễ thả hoa đăng (19h00 - 21h00) |
Thả hàng ngàn ngọn hoa đăng trên dòng sông Cái cầu siêu cho các vong linh. |
| Ngày 21/3 Âm lịch |
Lễ cầu quốc thái dân an (06h00 - 08h00) |
Đại lễ cầu nguyện hòa bình, phồn vinh cho đất nước và hạnh phúc cho nhân dân. |
|
Lễ cúng Ngọ và cúng thí thực (12h00 - 12h30) |
Dâng lễ vật lên Đức Thánh Mẫu và cúng thí thực bố thí cho các cô hồn tại tháp Chính. |
| Ngày 23/3 Âm lịch |
Tế lễ cổ truyền (04h00 - 06h00) |
Do các cụ hào lão đình Cù Lao chủ trì dâng lễ trang nghiêm theo nghi thức truyền thống. |
|
Lễ Khai Diên, Lễ Tôn Vương (06h00 - 09h00) |
Dựng sân lễ trước Mandapa, diễn xướng các tích tuồng cổ dâng Mẫu do các đoàn Hát Bội biểu diễn. |
|
Hội thi rước nước & dâng mâm quả |
Các đoàn thi đội chum nước lấy từ chùa Hang từ Mandapa lên tháp và thi bày mâm ngũ quả. |
|
Lễ Dâng hương tạ Mẫu (23h00 - 24h00) |
Nghi lễ khép lại mùa lễ hội chính thức tại tháp Chính. |
Hoạt động văn hóa nghệ thuật và trò chơi dân gian: Nghệ thuật Múa Bóng và hát Văn diễn ra liên tục tại sân trước tháp Chính với sự tham gia của hơn 100 lượt đoàn hành hương trong và ngoài tỉnh. Nghệ thuật múa Chăm sử dụng bộ ba nhạc cụ truyền thống (trống Paranưng, kèn Saranai, trống Ghinăng) với các điệu múa tiêu biểu như múa lễ ru con (do Muk Rija biểu diễn cạnh võng vải trắng), múa đạp lúa (tưởng nhớ Mẹ lúa Po Inư Nagar), múa đoá pụ (đội lu nước), múa chim công, múa quạt. Các trò chơi dân gian (Kaya Mâ-In) mang ý nghĩa tâm linh tín ngưỡng như thi đấu vật và thả diều tưởng nhớ dòng tộc cũng được tổ chức trong không gian hội.
- Thực trạng khai thác du lịch giai đoạn 2013 - 2018:
- Khai thác dịp lễ hội: Hàng năm thu hút hơn 100 đoàn hành hương đăng ký chính thức và hàng trăm nghìn lượt du khách thập phương tham gia chiêm bái, trẩy hội.
- Khai thác ngoài dịp lễ hội: Di tích duy trì đón khách tham quan thường nhật; tổ chức định kỳ hoạt động biểu diễn vũ điệu dân gian Chăm do các thiếu nữ Chăm đến từ làng Mỹ Nghiệp (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) biểu diễn.
- Tồn tại, hạn chế: Không gian di tích trên đồi Cù Lao nhỏ hẹp dễ dẫn đến hiện tượng quá tải cục bộ vào dịp lễ hội; khói nhang thắp trong lòng tháp gây đen tường gạch cổ; nghệ thuật Múa Bóng chịu ảnh hưởng và pha tạp hình thức Hầu Đồng miền Bắc; hoạt động dịch vụ và trải nghiệm văn hóa Chăm ngày thường còn đơn điệu; vấn đề vệ sinh môi trường lưu vực ven sông Cái sau lễ thả hoa đăng cần được kiểm soát chặt chẽ.
Chương 3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác Tháp Bà và Lễ hội Tháp Bà phục vụ phát triển du lịch Nha Trang
Dựa trên định hướng phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa, tác giả đề xuất hệ thống ba nhóm giải pháp:
- Giải pháp đối với di tích Tháp Bà:
- Công tác bảo tồn di sản: Thực hiện bảo tồn nghiêm ngặt vật liệu gạch nung và đá điêu khắc; chống sạt lở khu vực sườn đồi Cù Lao; điều tiết việc dâng cúng, hạn chế đốt vàng mã và thắp nhang trong lòng tháp Chính nhằm bảo vệ hiện vật tượng đá và hệ thống tường tháp.
- Quy hoạch không gian kiến trúc: Phân tách rõ luồng di chuyển của khách; khuyến khích sử dụng đường bậc đá chẻ men sườn đồi để lên xuống đền tháp, giảm áp lực mài mòn lên hệ thống bậc tam cấp cổ thuộc trục thần đạo Mandapa.
- Bổ sung gian hàng và hoạt động bổ trợ: Xây dựng khu trưng bày triển lãm làng nghề truyền thống Chăm (gốm Bàu Trúc, dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp) tại khu vực chân đồi; tạo không gian cho nghệ nhân trình diễn thao tác thủ công để phục vụ du khách trải nghiệm.
- Kết nối tuyến điểm du lịch: Liên kết di tích Tháp Bà với các điểm danh thắng nội thành Nha Trang (Hòn Chồng, Chùa Long Sơn, Viện Hải dương học) và thiết lập tuyến du lịch liên tỉnh kết nối các đền tháp Chăm Duyên hải miền Trung (Tháp Nhạn ở Phú Yên, Po Klong Garai ở Ninh Thuận).
- Giải pháp khai thác Lễ hội Tháp Bà:
- Mở rộng không gian tổ chức: Tận dụng dải đất cảnh quan ven sông Cái và khu vực sân Mandapa phía dưới để giãn mật độ khách tập trung trên đỉnh gò tháp.
- Tăng cường nội dung hoạt động: Quản lý tính chuẩn mực của nghệ thuật Hát Bội, Múa Bóng; duy trì các làn điệu múa Chăm nguyên bản; khôi phục có tổ chức các trò chơi dân gian Kaya Mâ-In; sắp xếp thời gian hợp lý cho các đoàn hành hương đăng ký dâng lễ.
- Các giải pháp phối hợp khác:
- Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh di tích và lễ hội trên các phương tiện truyền thông số và ấn phẩm lữ hành.
- Đào tạo nguồn nhân lực: Nâng cao trình độ thuyết minh viên và cán bộ quản lý di tích về tri thức văn hóa Chăm - Việt, đảm bảo cung cấp thông tin lịch sử chính xác cho khách du lịch.
- Bảo vệ môi trường du lịch: Bố trí thùng rác chuẩn quy cách, thu dọn triệt để tàn hoa đăng trên sông Cái và quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ xung quanh khu di tích.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả cụ thể dựa trên việc tổng hợp tư liệu văn bản:
- Hệ thống hóa tiến trình lịch sử vương quốc Chăm Pa (192 - 1832) và làm sáng tỏ nguồn gốc tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở Po Inư Nagar, chỉ ra quy luật giao lưu tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa văn hóa Chăm và văn hóa Việt (hình tượng Thánh Mẫu Thiên Y A Na).
- Khảo sát và lập bảng thống kê đặc điểm kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và ý nghĩa phụng thờ của 5 công trình kiến trúc còn lại tại quần thể Tháp Bà (Mandapa, Tháp Đông Bắc cao 23m, Tháp Nam cao 18m, Tháp Đông Nam cao 7,1m, Tháp Tây Bắc cao 9m) cùng hệ thống 28 đơn vị minh văn và bia ký thời Nguyễn.
- Mô tả chi tiết tiến trình thực hành 8 nghi lễ chính và hệ thống nghệ thuật diễn xướng (Múa Bóng, tuồng Hát Bội, múa ru con Muk Rija, múa đạp lúa, múa đoá pụ) trong Lễ hội Tháp Bà từ ngày 20 đến 23 tháng 3 Âm lịch.
- Ghi nhận số liệu thực trạng khai thác du lịch giai đoạn 2013 - 2018 với hơn 100 đoàn hành hương đăng ký và hàng trăm nghìn lượt du khách tham dự mỗi mùa lễ hội; đồng thời phản ánh việc tổ chức biểu diễn văn nghệ Chăm thường nhật từ đoàn nghệ nhân làng Mỹ Nghiệp.
- Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm: bảo tồn cấu trúc gạch đá, phân luồng giao thông bộ, quy hoạch gian hàng gốm - dệt thổ cẩm, mở rộng không gian lễ hội xuống chân đồi và liên kết tuyến điểm lữ hành liên tỉnh.
Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc kết nối giữa nghiên cứu văn hóa dân tộc học và khoa học du lịch ứng dụng; khắc phục tình trạng thiếu hụt tài liệu định hướng khai thác du lịch bền vững đối với di tích Tháp Bà tại Khánh Hòa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Phạm vi khảo sát không gian chỉ tập trung vào quần thể di tích Tháp Bà tại phường Vĩnh Phước (thành phố Nha Trang), chưa mở rộng khảo sát đối sánh với các di tích phối thờ Thiên Y A Na khác trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa (như di tích Am Chúa tại Đại An).
- Thời gian nghiên cứu thực trạng dừng lại ở mốc giai đoạn 2013 - 2018; nguồn số liệu du khách và doanh thu chủ yếu dựa trên báo cáo thứ cấp và dữ liệu thực tập lữ hành, chưa có điều kiện triển khai phiếu khảo sát xã hội học định lượng về mức độ hài lòng của du khách quốc tế.
- Hướng mở tiếp theo: Nghiên cứu đo lường sức chứa du lịch (carrying capacity) của di tích đồi Cù Lao trong những ngày cao điểm lễ hội; xây dựng mô hình thuyết minh số và giải pháp ứng dụng công nghệ 3D trong việc bảo tồn, trưng bày hiện vật kiến trúc tháp Chăm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học và Dân tộc học khi tiếp cận đề tài nghiên cứu về di sản văn hóa Chăm Pa.
Các doanh nghiệp lữ hành có thể tham khảo mục phân tích không gian kiến trúc tháp Chăm, hệ thống bia ký và tiến trình tế lễ trong Lễ hội Tháp Bà để biên soạn thuyết minh tour du lịch văn hóa - tâm linh tại Nha Trang. Đồng thời, các cơ quan quản lý di tích và văn hóa địa phương có thể nghiên cứu các đề xuất về phân luồng giao thông bộ, hạn chế khói hương và mở rộng không gian phụ trợ nhằm hoàn thiện công tác quản lý điểm đến.
Câu hỏi thường gặp
1. Quần thể Tháp Bà Nha Trang hiện nay còn lại những công trình kiến trúc nào?
Di tích hiện còn 5 công trình phân bố trên 2 tầng mặt bằng: khu vực Tiền đình (Mandapa) gồm 4 hàng cột gạch nung ở tầng dưới; tầng trên là khu đền tháp gồm Tháp Đông Bắc (Tháp Chính, cao khoảng 23m), Tháp Nam (cao 18m), Tháp Đông Nam (cao 7,1m) và Tháp Tây Bắc (cao 9m), cùng dấu vết nền móng của 2 tháp cổ phía sau.
2. Mâm lễ vật dâng cúng Mẹ xứ sở của đồng bào Chăm tại Lễ hội Tháp Bà có những đặc điểm gì?
Lễ vật truyền thống gồm: 2 con gà luộc (hoặc dê hiến sinh giết thịt tại chỗ), 3 hộp cơm đựng trong thau - hốp, 4 chén canh thập cẩm, 7 loại trái cây rửa bằng nước lọc qua cát lồi, nến sáp làm từ mật ong có màu đen, bánh hạt nổ rang từ gạo nếp, 3 quả trứng gà, 1 chai rượu, đĩa trầu cau (5 lá trầu, 5 miếng cau) và trầm hương.
3. Hiện tượng tiếp biến văn hóa Chăm - Việt tại Tháp Bà thể hiện rõ nhất qua những yếu tố nào?
Thể hiện qua việc người Việt tiếp nhận và Việt hóa tục thờ Nữ thần Po Inư Nagar thành tín ngưỡng Thiên Y A Na Thánh Mẫu (Thượng đẳng thần); phối thờ thần Skandha thành ông bà Tiều, thần Shiva thành tháp Ông, thần Ganesha thành ban thờ Cô - Cậu; đặt tượng Mẫu vào điện có trang phục xiêm y của người Việt; bổ sung nghi thức Hát Bội, múa bóng và khắc văn bia chữ Hán - Nôm của Phan Thanh Giản (1856) kể về sự tích giáng thế tại Đại An.
4. Vì sao các nhà khảo cổ xác định trục Cổng - Mandapa - Tháp Chính là trục thần đạo của di tích?
Quá trình khai quật trùng tu đã làm phát lộ ở mặt phía Đông dãy tam cấp gồm 4 bậc (cao 1,20m, rộng 1,40m) và một đoạn đường dài 7,40m, rộng 2,60m nằm cách tường Đông của Mandapa 9,80m hướng thẳng ra vị trí cổng chính cũ. Tuyến liên kết thẳng hàng từ Cổng cũ qua Mandapa lên lối tam cấp dẫn thẳng vào tháp Chính thờ Po Inư Nagar khẳng định đây là trục thần đạo trung tâm của toàn bộ khu đền thờ.
5. Khóa luận chỉ ra những hạn chế nổi cộm nào trong thực trạng khai thác du lịch tại Tháp Bà giai đoạn 2013 - 2018?
Các hạn chế bao gồm: nguy cơ quá tải không gian trên đỉnh đồi Cù Lao vào 4 ngày diễn ra lễ hội chính; khói hương làm ố đen các mảng tường gạch nung cổ; hoạt động Múa Bóng có xu hướng bị thương mại hóa và pha tạp nghi thức Hầu Đồng; sản phẩm trải nghiệm văn hóa Chăm ngày thường còn thiếu vắng; rác thải và tàn nến hoa đăng gây áp lực lên môi trường sông Cái.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thu Linh đã hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, kiến trúc đền tháp Chăm Pa và không gian tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở Po Inư Nagar - Thiên Y A Na Thánh Mẫu tại thành phố Nha Trang. Dựa trên việc phân tích thực trạng khai thác du lịch giai đoạn 2013 - 2018, công trình đã chỉ rõ những mặt tích cực cùng những bất cập về quá tải không gian và bảo tồn kiến trúc cổ. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn kết công tác bảo tồn di sản gạch nung với việc tái quy hoạch không gian lễ hội và phát triển sản phẩm du lịch làng nghề truyền thống.