Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LÀNG NGHỀ VÀ KHÁI QUÁT LÀNG NGHỀ THÊU REN VĂN LÂM 1. Lý luận chung về làng nghề, làng nghề truyền thống 1. Nghề Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động của xã hội” (nghề dạy học, nghề nông, lâu năm trong nghề, nhà nghề, tay nghề) [45, tr. Từ khái niệm trên có thể hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được truyền dạy, đào tạo con người có được những kiến thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Làng nghề Nước ta là nước có nhiều nghề thủ công truyền thống, phân bố suốt chiều dài đất nước, đi từ Bắc vào Nam nơi đâu chúng ta chúng bắt gặp các làng nghề ở các làng quê. Hiện nay cả nước có 5.411 làng nghề và làng có nghề, trong đó có gần 2.000 làng nghề đã được công nhận, trên 400 làng nghề truyền thống, với 53 nhóm nghề, với khoảng 20 triệu lao động [6,tr. Làng nghề thủ công truyền thống là nơi lưu trữ, thể hiện những giá trị độc đáo của một nền văn hoá, sản phẩm không chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại mà còn có mặt giá trị về văn hoá và lịch sử. Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Làng nghề là làng chuyên làm một nghề thủ công truyền thống” [45, tr.
Theo Tiến sỹ Phạm Côn Sơn trong cuốn Làng nghề truyền thống Việt Nam thì làng nghề được định nghĩa như sau: “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ 11 chức, kỷ cương, tập quán riêng theo nghĩa rộng. làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương” [25, tr. Xét theo góc độ kinh tế, trong cuốn Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tiến sỹ Dương Bá Phượng cho rằng: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập.
Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng” [23, tr. Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư ấp, thôn, ấp, bản làng, buôn, phum sóc, hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [7, tr. Như vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính sau: Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa. Tiêu chí để được công nhận làng nghề được quy định tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, gồm ba tiêu chí: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn (Nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 thay thế 12 Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 có hiệu lực từ ngày 01/6/2018 quy định: Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động ngành nghề nông thôn).
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. Từ những khái niệm và quan niệm về nghề nêu trên, tác giả xin được đưa ra quan điểm của mình về làng nghề mang tính tổng hợp để sử dụng trong luận văn của mình như sau: Làng nghề là những làng ở vùng nông thôn, ngoài sản xuất nông nghiệp còn làm thêm nghề phụ, sau này nghề phụ dần trở thành nghề chiếm ưu thế hơn sản xuất nông nghiệp cả về số lao động và thu nhập. Tính cộng đồng trong làng nghề thể hiện cao, làng nghề vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản của địa phương, dân tộc.
Làng có nghề Theo Quyết định số 615/QĐ-UBND, ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển nghề, làng nghề gắn với du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 có đưa ra khái niệm làng có nghề như sau: “Là làng được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện thuận lợi để phát triển. Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên”. Dựa trên quan điểm về làng có nghề nêu trên, theo tác giả hiểu: Làng có nghề là những làng ở vùng nông thôn, ngoài sản xuất nông nghiệp còn làm thêm nghề phụ, có số hộ lao động ít nhất từ 10% trở lên, nên chưa đủ tiêu chí để công nhận là làng nghề. Làng nghề truyền thống 13 Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống, nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống là sự kết hợp giữa làng nghề và nghề truyền thống.
Khái niệm làng nghề: Đã được tác giả trình bày ở mục 1. Truyền thống: Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt “Truyền thống là thói quen đã hình thành từ lâu trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác” [45, tr. Nghề truyền thống: Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”. Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau: - Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ 50 năm tính đến thời điểm công nhận.
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc. - Nghề gắn với tên tuổi của 1 hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi làng nghề. Làng nghề truyền thống là nơi sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và các hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, được truyền nghề qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là bán lẻ, học cùng có tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân theo những hương ước, quy định của làng nghề, dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư trú của họ. Từ những quan điểm, khái niệm trên, tác giả xin đưa ra quan điểm của mình về làng nghề truyền thống như sau: Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống, có lịch sử làng nghề từ 50 năm trở lên, đại đa số 14 người dân làm nghề cổ truyền, có những nghệ nhân giỏi, sản xuất ra các sản phẩm đặc sắc, có tính ứng dụng cao, độc đáo, tinh xảo, mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc, địa phương và làng nghề đã được UBND cấp tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống.
Tác giả nghiên cứu về làng nghề thêu ren Văn Lâm dưới góc độ là làng nghề truyền thống, sau đây xin được gọi ngắn gọn làng nghề thêu ren truyền thống Văn lâm là làng nghề thêu ren Văn Lâm trong luận văn. Thủ công Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Thủ công là lao động sản xuất bằng tay, với dụng cụ giản đơn, thô sơ”. Theo tác giả: Thủ công là dùng bằng tay và các công cụ giản đơn, thô sơ để lao động, sản xuất ra các sản phẩm. Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công (bằng tay) là chủ yếu.
Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc, nhiều loại sản phẩm có công nghệ, kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ, mặc dù hiện nay đã có các thiết bị máy móc hiện đại hỗ trợ, song cũng chỉ hỗ trợ được một số khâu nhất định trong quá trình sản xuất, còn phần lớn là làm bằng tay của những người thợ. Thêu ren Thêu ren là hai từ ghép “thêu” và “ren”, theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng-Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2001: Thêu: “Dùng kim và chỉ màu tạo nên các hình trên mặt vải” (Thêu cành hoa, thêu gối, thêu tên vào áo, thêu tranh…) [45, tr. 15 Ren: “Đồ mĩ nghệ đan bằng chỉ, chỗ dày, chỗ thưa, tạo thành những hình trang trí, mép thường có hình răng cưa” (hàng ren, đường viền bằng ren. - Rua: “Tạo ra các hình trang trí trên đồ vải bằng cách rút bớt sợi vải ra và buộc các sợi còn lại, hoặc luồn thêm các sợi màu vào” (rua áo gối, rua khăn, rua bông hoa trên ngực áo.
Như vậy, thêu ren là sự kết hợp giữa hai kỹ thuật thêu và ren. Thêu dùng kim và chỉ màu tạo nên các hình trên mặt vải, còn kỹ thuật ren thường tạo thành những hình trang trí, mép thường có hình răng cưa của sản phẩm thêu. Cũng có sản phẩm thêu kết hợp cả ba kỹ thuật thêu, ren và rua tạo sự tinh xảo, sinh động cho sản phẩm. Nhất là các sản phẩm váy, áo thời trang, gối, bộ lót dụng cụ ăn uống… 1.
Quản lý và quản lý Nhà nước về văn hóa Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và ở mọi thời đại.