Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú với 5.411 làng nghề và làng có nghề, trong đó có gần 2.000 làng nghề được công nhận chính thức, tạo việc làm cho khoảng 20 triệu lao động trên toàn quốc. Tại tỉnh Ninh Bình, thống kê của Sở Công thương ghi nhận 257 làng có nghề với 81 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận, riêng nhóm ngành thêu ren có 23 làng nghề đang hoạt động. Trong số đó, làng nghề thêu ren Văn Lâm thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư nổi bật như một trung tâm thủ công mỹ nghệ độc đáo, có lịch sử hình thành hơn 700 năm từ thời nhà Trần thế kỷ XIII, được vinh danh là một trong 12 làng nghề tiêu biểu của cả nước vào năm 2007.

Tuy nhiên, trước sức ép của kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, làng nghề Văn Lâm đang đối mặt với nguy cơ mai một nghiêm trọng. Số liệu khảo sát thực tế năm 2017 cho thấy toàn thôn có 1.500 lao động nhưng chỉ còn khoảng 200 hộ duy trì làm nghề thường xuyên, giảm hơn 45% so với giai đoạn trước năm 2010. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn bí quyết kỹ nghệ truyền thống với mục tiêu phát triển kinh tế thương mại trong bối cảnh bùng nổ du lịch tại Quần thể danh thắng Tràng An - Tam Cốc.

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý, nhận diện hệ giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn bền vững gắn với chuỗi giá trị du lịch. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại thôn Văn Lâm từ mốc được công nhận làng nghề năm 2006 đến năm 2018, đồng thời mở rộng đối sánh với ba làng thêu ren lân cận trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu hướng đến mục tiêu nâng thu nhập bình quân của hộ làm nghề lên 25-30% và gia tăng tỷ trọng sản phẩm thêu ren cao cấp đạt chuẩn xuất khẩu lên trên 40%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận về quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa và lý thuyết giá trị trong kinh tế học văn hóa. Hệ thống lý luận của nghiên cứu tích hợp ba trường phái bảo tồn di sản chính:

  • Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn dạng tĩnh): Giữ gìn nguyên gốc các yếu tố kỹ thuật, chất liệu và hoa văn truyền thống, lưu trữ trong hệ thống bảo tàng và tài liệu chuyên khảo.
  • Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn dạng động): Chọn lọc các giá trị cốt lõi, thích ứng linh hoạt với đời sống đương đại và nhu cầu tiêu dùng hiện nay.
  • Bảo tồn có phát triển: Đổi mới mẫu mã, nâng cao công năng thẩm mỹ để đưa sản phẩm thủ công vào chuỗi cung ứng hàng hóa hiện đại.

Đồng thời, nghiên cứu vận dụng ba cấp độ khai thác di sản gồm: chưa khai thác, khai thác hạn chế và khai thác toàn diện triệt để nhằm định vị chiến lược phát triển cho làng nghề. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo quy định pháp luật hiện hành, bao gồm: tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN và Nghị định số 52/2018/NĐ-CP (quy định thời gian hình thành trên 50 năm, tối thiểu 20-30% số hộ tham gia), khái niệm bí quyết nghề thủ công và tính cố kết cộng đồng trong thiết chế làng xã Bắc Bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Quản lý văn hóa, Xã hội học và Kinh tế học du lịch, kết hợp định tính và định lượng:

  • Quy mô mẫu khảo sát: Tổng cộng 200 phiếu điều tra hộ gia đình làm nghề tại thôn Văn Lâm, 50 phiếu phỏng vấn sâu nghệ nhân và thợ bậc cao, 12 cuộc phỏng vấn lãnh đạo doanh nghiệp/hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và 150 phiếu khảo sát du khách trong nước, quốc tế tại bến thuyền Tam Cốc.
  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đối với các hộ sản xuất để phản ánh đúng cơ cấu quy mô kinh tế, kết hợp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích nhằm thu thập dữ liệu sâu về kỹ thuật chế tác cổ truyền từ các nghệ nhân nắm giữ bí quyết.
  • Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu: Phương pháp điền dã dân tộc học được thực hiện liên tục trong giai đoạn 2016-2018 để trực tiếp quan sát quy trình sản xuất, ghi nhận hình ảnh và tư liệu hóa các công đoạn thêu ren. Phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh được lựa chọn nhằm đối chiếu các chỉ số phát triển của Văn Lâm với ba làng nghề thêu ren khác gồm Lãng Nội (xã Gia Lập), Vũ Đại (xã Gia Xuân) và thôn Chùa (xã Gia Thủy), qua đó đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự suy giảm rõ rệt về quy mô lao động chuyên nghiệp tại làng nghề. Dữ liệu khảo sát tháng 5/2017 cho thấy làng Văn Lâm có khoảng 1.500 người trong độ tuổi lao động nhưng chỉ có 200 hộ với 200 thợ thêu duy trì hoạt động thường xuyên, chiếm khoảng 13,3% tổng lực lượng lao động địa phương. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với giai đoạn 2000-2005 khi có trên 70% số hộ tham gia sản xuất thêu ren xuất khẩu.

Thứ hai, tác động chuyển dịch sinh kế mạnh mẽ từ hoạt động du lịch dịch vụ. Báo cáo thống kê năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã Ninh Hải ghi nhận địa phương đón 494.230 lượt khách du lịch, tăng 29.075 lượt (tương đương mức tăng 6,2%) so với năm 2016. Thu nhập nhanh từ dịch vụ chèo thuyền đò tại bến Tam Cốc và kinh doanh lưu trú đã thu hút hơn 60% thợ trẻ rời bỏ khung thêu thủ công.

Thứ ba, sự mai một các kỹ nghệ độc bản và thiếu hụt quyền sở hữu trí tuệ. Quy trình chế tác thêu ren Văn Lâm kết hợp tinh hoa thêu tay cung đình thời Trần với kỹ thuật ren rua phương Tây du nhập từ đầu thế kỷ XX, bao gồm các lối thêu nối đuôi (độ dài mũi thêu chuẩn xác 5mm), thêu vặn lướt, đục hoa văn qua tấm nilon với khoảng cách lỗ xăm từ 1-3mm. Tuy nhiên, hiện nay có tới 75% sản phẩm trên thị trường chỉ áp dụng kỹ thuật thêu đơn giản, chưa có nhãn hiệu tập thể hay chỉ dẫn địa lý được bảo hộ chính thức.

Thứ tư, cơ cấu doanh thu phân hóa không đồng đều. Sản phẩm thêu tay nghệ thuật cao cấp phục vụ xuất khẩu chỉ chiếm 25-30% tổng doanh thu của làng nghề, trong khi 70% còn lại đến từ các mặt hàng lưu niệm đại trà có biên lợi nhuận thấp và dễ bị cạnh tranh bởi hàng thêu máy công nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của thực trạng trên bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và cơ cấu kinh tế địa phương. Xã Ninh Hải có 303,5 ha đất nông nghiệp nhưng chủ yếu là loại "đất ốc" ngập trũng, một nửa diện tích chỉ cấy được một vụ lúa mỗi năm do địa hình núi đá vôi bao bọc. Sức ép mưu sinh buộc người dân phải chuyển đổi sang các dịch vụ du lịch đem lại dòng tiền tức thì thay vì kiên trì với nghề thêu đòi hỏi sự tỉ mỉ và thời gian hoàn thiện dài.

Khi đối sánh với các làng nghề thêu ren khác tại tỉnh Ninh Bình, Văn Lâm có lợi thế độc nhất là nằm ngay tại trung tâm vùng lõi Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới Tràng An. Tuy nhiên, mức độ gắn kết giữa sản phẩm thêu ren với chuỗi cung ứng du lịch mới dừng ở dạng tự phát. Tỷ lệ du khách quốc tế mua sản phẩm thêu tay truyền thống chỉ đạt khoảng 8-12% trên tổng số gần 500.000 lượt khách mỗi năm.

Về mặt học thuật, các số liệu thực chứng này có thể được mô hình hóa tối ưu qua biểu đồ phân bố lao động giai đoạn 2006-2018 kết hợp với bảng ma trận đối sánh chỉ số năng lực cạnh tranh giữa bốn làng nghề thêu ren trên địa bàn tỉnh. Dữ liệu khẳng định việc áp dụng mô hình "Bảo tồn có phát triển" là con đường tất yếu để cứu vãn làng nghề truyền thống trước nguy cơ đứt gãy thế hệ nghệ nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản làng nghề Văn Lâm trong giai đoạn 2018-2025, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Chuẩn hóa chương trình truyền dạy và chính sách đãi ngộ nghệ nhân: Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình chủ trì phối hợp với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức 4 khóa đào tạo nâng cao tay nghề mỗi năm cho 100-120 học viên trẻ; thiết lập quỹ hỗ trợ nghệ nhân cao tuổi với mức trợ cấp thường xuyên nhằm mục tiêu nâng tỷ lệ thợ lành nghề nắm vững kỹ thuật thêu ren cổ truyền đạt mức 35-40% trước năm 2023.

  2. Xây dựng thương hiệu và xác lập quyền sở hữu công nghiệp: Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ hoàn thiện hồ sơ đăng ký nhãn hiệu tập thể "Thêu ren Văn Lâm" và chỉ dẫn địa lý; triển khai dán tem truy xuất nguồn gốc mã QR cho 100% cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng cao trước quý IV năm 2022.

  3. Tái cấu trúc chuỗi giá trị sản phẩm gắn liền với du lịch trải nghiệm: Các doanh nghiệp làng nghề phối hợp với Sở Du lịch xây dựng 15-20 mẫu sản phẩm quà tặng du lịch đạt chuẩn OCOP từ 4 sao trở lên; quy hoạch không gian trình diễn nghề thêu sống động tại khu vực bến đò Tam Cốc, phấn đấu tăng mức chi tiêu mua sắm lưu niệm của 500.000 lượt khách tham quan lên thêm 20% trong giai đoạn 2020-2025.

  4. Bảo tồn không gian văn hóa di sản và phát huy lễ hội truyền thống: Ủy ban nhân dân xã Ninh Hải cùng cộng đồng địa phương duy trì tổ chức trang trọng Lễ giỗ tổ nghề thêu (ngày 20 tháng 1 âm lịch) và Lễ hội đền Thái Vi (từ ngày 14 đến 17 tháng 3 âm lịch); dành nguồn vốn đầu tư tôn tạo hệ thống 7 miếu thờ sơn thần dọc tuyến tham quan, hoàn thiện nhà trưng bày văn hóa làng nghề thêu ren phục vụ giáo dục di sản trước năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, công thương và du lịch: Các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và huyện có thể sử dụng dữ liệu thực trạng cùng khung giải pháp để xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề gắn với du lịch bền vững đến năm 2030, tối ưu hóa các quyết định phân bổ ngân sách khuyến công.

  2. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và bảo tồn di sản: Cung cấp hệ thống tư liệu chuẩn xác về kỹ thuật thêu cung đình thời Trần, phương thức kết hợp kỹ thuật ren rua phương Tây và giá trị cố kết cộng đồng của thiết chế làng nghề cổ truyền vùng đồng bằng sông Hồng.

  3. Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh thủ công mỹ nghệ: Nắm bắt các phân tích thị trường, xu hướng thị hiếu khách du lịch quốc tế để tái cấu trúc mẫu mã sản phẩm, xây dựng chiến lược định vị thương hiệu và tham gia hiệu quả vào chương trình OCOP quốc gia.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Văn hóa học, Du lịch, Kinh tế phát triển: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu điền dã kết hợp định lượng thực chứng trong việc giải quyết bài toán phát triển kinh tế di sản.

Câu hỏi thường gặp

Lịch sử nghề thêu ren Văn Lâm bắt đầu từ thời điểm nào và do ai truyền dạy? Nghề thêu ren Văn Lâm xuất hiện từ thế kỷ XIII thời nhà Trần (hơn 700 năm trước), gắn liền với sự kiện Vua Trần Thái Tông về tu hành tại Hành cung Vũ Lâm. Thái sư Trần Thủ Độ và bà Trần Thị Dung (Linh Từ Quốc Mẫu) đã cùng các cung nữ truyền dạy nghề thêu cung đình cho dân làng. Đến cuối thế kỷ XIX, hai cụ Đinh Văn Xoang và Đinh Văn Hênh tiếp tục du nhập kỹ thuật ren rua của Pháp, tạo nên danh xưng "vương quốc thêu ren".

Kỹ nghệ thêu ren Văn Lâm có điểm gì khác biệt so với các làng thêu khác? Điểm độc đáo của Văn Lâm là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật thêu tay truyền thống tinh xảo với nghệ thuật ren rua, tạo đường viền răng cưa và họa tiết rút sợi cầu kỳ. Quy trình sử dụng mực lơ dễ tẩy rửa pha trên nền vải trắng, mũi thêu nối đuôi cách đều 5mm và yêu cầu người thợ điều khiển kim với góc xoay linh hoạt 30 độ giúp hoa văn sống động cả hai mặt.

Tại sao số lượng thợ thêu tại Văn Lâm lại có xu hướng suy giảm trong những năm gần đây? Sự phát triển mạnh mẽ của khu du lịch Tam Cốc - Bích Động đón gần 500.000 lượt khách mỗi năm đã tạo ra cơ hội việc làm dịch vụ chèo đò và thương mại với thu nhập cao hơn. Trong khi đó, nghề thêu đòi hỏi kỹ thuật cao nhưng thu nhập bình quân trước đây còn thấp, dẫn đến tình trạng lao động trẻ chuyển dịch sinh kế sang khu vực phi nông nghiệp.

Mô hình bảo tồn nào được luận văn chứng minh là tối ưu nhất cho làng nghề Văn Lâm? Luận văn khẳng định mô hình "Bảo tồn có phát triển" (bảo tồn dạng động) là lựa chọn tối ưu. Thay vì chỉ lưu giữ tĩnh tại bảo tàng, làng nghề cần thương mại hóa có kiểm soát, đưa các mẫu thêu cổ vào sản phẩm thời trang, quà tặng lưu niệm cao cấp phục vụ trực tiếp chuỗi khách du lịch tại Quần thể danh thắng Tràng An.

Làng nghề thêu ren Văn Lâm đã đạt được những danh hiệu cấp quốc gia nào? Làng nghề thêu ren Văn Lâm được Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình công nhận làng nghề năm 2006, công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống vào năm 2015 và được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam vinh danh là 1 trong 12 làng nghề thủ công tiêu biểu của cả nước vào năm 2007.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lịch sử - văn hóa hơn 700 năm của làng nghề thêu ren Văn Lâm gắn với Hành cung Vũ Lâm thời Trần.
  • Đánh giá thực chứng thực trạng suy giảm lao động lành nghề (chỉ còn 200 thợ thường xuyên trên 1.500 lao động vào năm 2017) dưới tác động của kinh tế thị trường.
  • Làm rõ tính tất yếu của việc chuyển dịch cơ cấu làng nghề theo hướng tích hợp sâu vào chuỗi giá trị du lịch Tam Cốc với gần 500.000 lượt khách/năm.
  • Xác lập khung lý thuyết bảo tồn thích ứng và đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về đào tạo nghệ nhân, sở hữu trí tuệ, phát triển sản phẩm OCOP và bảo tồn lễ hội.
  • Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy hỗ trợ tỉnh Ninh Bình triển khai hiệu quả Quy hoạch phát triển nghề và làng nghề giai đoạn 2020-2030.

Công trình đóng góp một mô hình phát triển cân bằng giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và tăng trưởng kinh tế địa phương. Để làng nghề thêu ren Văn Lâm phát triển bền vững, các cấp chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng cần bắt tay hành động ngay trong việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể và hiện đại hóa chuỗi cung ứng sản phẩm. Hãy tìm hiểu và khai thác sâu hơn nguồn dữ liệu quý giá từ luận văn thạc sĩ này để kiến tạo các dự án phát triển du lịch làng nghề hiệu quả.