chương I phân định các khái niệm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cụ thể như sau : +1. Di sản văn hóa phi vật thể là sẵn phẩm tỉnh thân có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu git bằng trí nhớ, chit viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghẻ, trình diễn và các hình thức lưu giữ , lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngư văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lôi sông, nếp sống, lê hội, bí quyết ve l6 nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, vẻ văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, khoa học, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Luật di sản văn hóa đã nêu và xác định một cách rõ ràng các khái niệm liên quan đến di sản văn hóa.
Di sản văn hóa được hiểu bao gồm các ý chính ; + Bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. + Là sản phẩm tinh than, vat chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. + được lưu truyền tử thế hệ này qua thế hệ khác. Trên thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về di sản văn hóa.
Có tác giả trình bày một cách rất chỉ tiết, nhưng cũng có tác giả phác họa qua các nét co ban mà thôi. Cách trình bày của GS. Tran Quốc Vượng phân khái niệm di sản văn hoá thành di sản văn hoá hữu thể và di sản văn hoá vô hình là cách phân chia hợp lý và có tính triệt để nhất. Quan niệm của GS.TS Hoang Vinh được trình bay khá rõ nét trong các tác phẩm của mình.
Cách hiểu của ông chú trọng đến sự cảm nhận, và tác động của chủ thé di sản văn hóa, tức là con người. Con người theo cách trình bay của ông đã can thiệp, tác động trực tiếp trong quá trình hình thành, tổn tại, phát sinh và phát triển cũng như suy kiệt, diệt vong của di sản văn hóa. Theo cách hiểu như vây, nếu không có chủ thể là con người này, thì di sản văn hóa không tôn tại, hoặc, không còn là di sản văn hóa. Di sản văn hóa, tất nhiên chỉ xuất hiện và tồn tai trong mối quan hệ với chủ thể là con người.
Không có chủ thể này, nó không thể được tạo ra, tổn tại và phát triển. Tuy nhiên, cũng theo cách trình bảy của tác giả, tủ hai cặp phạm trủ chính, tác giả dã suy luận rất lôgíc về su tồn tại như một thực thể khách quan. Hay nói khác, đến lượt mình, di sản văn hóa tén tại độc lập với những quy luật và chịu sự chi phối chung - x an 5 u : sak `. N = của thực tiễn cuộc sông.
Điêu nay khang định sự tôn tại va phat trién bên vững PAI HỌC RE viHAete 4 TRÙNG TTẠM THON GTiN tương đối theo các quy luật khach quan của di sản văn hóa, không chỉ chịu sự can thiệp và tác động của chủ thể ( ở đây là trong những phạm vi, mức độ, không gian và thdi'cu thé ). Chúng ta đã ting biết vai trò tác động ngược trỏ lại của nền văn hóa Hy Lạp cổ đại trước sự cưỡng chế, xâm lăng của Ba Tư, Văn hóa Nhà Hán đối với thế lực Nhà Nguyên, hoặc Nhà Thanh. Hoặc văn hóa Đại Việt trước âm mưu đồng hóa hàng nghìn năm của các thé lực phong kiến Trung Hoa. Sự tổn tại trong một tổng thể và chịu sự tương tác theo các quy luật khách quan là một nội dung quan trọng ma GS.TS Hoàng Vinh gọi tên là "thực thể khách quan".
Nội dung này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong vấn dé nhận thức cũng như hoạch định cho công tác bảo tổn và phát triển di sản văn hóa của nhân loại nói chung, của đất nước ta nói riêng. Không chú trọng đến nội dung này, sẽ phá võ tính khách quan của di san văn hóa, biến di san văn hóa trỏ thành một thực thể khác, không con lả nó nữa. Giá trị của nó, do vậy, không những bị giảm đi mà còn có thể nói là không con giá trị. Quan niệm của GS.TS Hoàng Vinh chú trọng đến mặt thứ hai của vấn để, đó là tính khả biến của di sản văn hóa.
Theo trình bảy của ông là khả biến dưới tác động của chủ thể. Day là điểm rất quan trong trong vấn dé nhận thức về di sản văn hóa. Sự tổn tại và phát triển của di sản văn hóa chịu sự tác động, can thiệp hết sức rõ nét của chủ thể - con người. Không chú trọng dén nội dung này, con người đã làm suy kiệt hoặc biến mất rất nhiều di sản văn hóa.
Khi nhận ra tính chất nghiêm trọng và hậu quả của nó, thì không còn có thể cứu van đượ c nữa. Tro ng nội dun g nay con bao chứ a ca thái độ và các h qua n niệm cũng như phương pháp, cách thức hành động của chủ thể trong sự can thiệ p, tác độn g của họ vao sự tồn tại và pha t triể n của di sản văn hóa. Liê n qua n đến vấn dé này , sự nhậ n thú c và qua n niệ m của chủ thể có vai trò hết sức quan trọng. Nó là cơ sở nền tan g để di đến nhữ ng phư ơng phá p và hàn h độn g cụ thể.
Ng ay tro ng côn g tác phụ c hỏi , phụ c chế các di sản văn hóa mà chú ng 18 ta đã thực hiện trong quá khứ, cũng như quan niệm và cách giải quyết đối với một số di sản văn hóa 6 các địa phương ( nhất là thời kỳ trước Dai hội Dang lần VI ) chúng ta đã mắc phải không ít sai sót, để lại hậu quả khá nặng nẻ , như làm biến mất một số di sản văn hóa có giá trị một cách rất đáng tiếc. Điểm nổi bật trong quan niệm của GS.TS Hoàng Vinh vẻ di sản văn hóa là sự sàng lọc thử thách của thời gian đối với di sản văn hóa. Nó như là một tiêu chí quan trọng để định giá di sản văn hóa. Vậy nhưng, nếu nói như vậy, sẽ làm giảm nhẹ vai trò của chủ thể trong sự tôn tại, phát triển của di san văn hóa.
Sẽ trọn vẹn hơn khi nhìn nhận nó trong mối quan hệ tổng thể, lôgíc như nó vốn có. Như vậy, vila khẳng định tính tổn tại độc lập khách quan của nó, là thực thể khách quan, vừa khẳng định vai trò, nhiệm vụ cũng như sự tác động tích cực của chủ thể, trước hết, là trong công tác bảo tổn và phát triển các di sản văn hóa. Cho dù được trình bày rất ngắn gọn, nhưng về cơ bản, quan niệm mà tác giả Nguyễn Cẩm Thúy đưa ra khá rõ ràng và đầy đủ. Điểm khác biệt là tác giả này khẳng định di sản văn hóa là sản phẩm vật chất và tinh thần do con người và thiên nhiên tao ra.
Nguyễn Tri Nguyên lại chú trọng đến vai trò của di san văn hóa trong tiến trình của dân tộc. Ông gọi nó là nguồn lực nội sinh cho quá trình tiếp biến văn hóa, là yếu tố cơ bản tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc. Cách phân loại của ông là phân thành hai loại : di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Điểm đáng chú ý là, ông cho rằng hai hình thái của di sản văn hóa không tách roi một cách cơ giới.
Trong thực tiễn, việc khu biệt hai loại di sản văn hóa nay, có lúc gặp không ít khó khăn. Nguyên nhân chủ yêu là do sự giao thoa khá chặt chẽ giữa chúng với nhau. Trong môi quan hệ này là di san van ; ì hóa vật thể, nhưng cũng là nó, trong mối quan hệ khác lại là di sản văn hóa phi vật thể. Các h nhì n nhậ n vấn đề tron g mối qua n hệ mỏ, qua n hệ độn g man g tính biện chứng rất cao.
Nó 1a cơ sở khoa học giúp chúng ta nhận thức và xu 19 lý khá triệt để khi nghiên cứu, thực hiện công tác bảo tổn và phát triển di sản văn hóa. Luật di sản văn hóa ra đởi muộn hơn ( tháng 7 năm 2001) nên vẻ cơ bản đã khái quát được các điểm chính yếu của khái niệm di sản văn hóa. Luật di sản văn hóa chọn cách phân chia thành hai loại : di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Cho dù có những điểm khác nhau nhất định, các quan niệm trên thống nhất ở những nội dung chính khi trình bảy về khái niệm di sản văn hóa cũng như cách phân loại di sản văn hóa : + Bao gém hai cặp phạm tri chính : Truyền thống - hiện đại, Kế thừa - phát triển.
+ Sự tồn tại khách quan ( thực thể khách quan ). + Tính khả biến. + Chủ thể và vai trỏ của chủ thể. + Là sự ton tại hiên thực của văn hóa.
+ Yếu tố cơ bản tạo thành bản sắc dân tộc. + Phân thanh hai loại : di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể ( cho dù cách gọi tên có khác nhau ). + Việc phan chia này không tách roi hai loại di san văn hóa một cách CƠ gidi. Di sản văn hoá và phân loại di sản văn hoá: 1.
Di sản văn hoá là gi ?. a Jans Di san văn hoa là những sản phẩm vat chat va tinh than do con người tạo ra và được sử dung phục vu cho đời sống của con nguòi, tử đó hình thành, thuỷ “HIẾN! ⁄ ie Oe Ai MANG. 5 ne het a eae tha khang ainn Cac 8914 trl Cua chung Ve Lich SU, Vall MOa, KñØ0â NOC. Phan loai di san văn hoá: ° ” w z ° A ở ? ne.
Di san văn hoa phi vật thê là san phẩm tinh thân có gia trị lịch su văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhó, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền 20 khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức vẻ y, dược học cổ truyền, vẻ văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thúc dân gian khác.