đặt vấn đề và thực hiện phương pháp nghiên cứu thực thể từ nhiều bình diện dưới nhiều góc độ của các chuyên ngành khác nhau. Chúng ta phải coi các thực thể nghiên cứu như một sinh thể đang tồn tại, vẫn liên tục phát triển và biến đổi không ngừng. Có những thứ tưởng chừng đã kết thúc nhưng thực ra chỉ là sự phát triển chung cục và tiếp biến. Đặc biệt với các cụm di tích lịch sử - văn hóa thì Hán Nôm học phải được sử 10 dụng như một phương tiện nghiên cứu đắc lực không thể bỏ qua.
Bên cạnh những vấn đề văn hóa, lịch sử, địa lý, chính trị, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, kiến trúc… giới nghiên cứu cần chú ý khai thác thêm các vấn đề nghiên cứu dưới các góc độ liên quan mật thiết đến Hán Nôm học như ấn chương, văn thể, từ chương, thư pháp, danh tính học… Điều này đặt ra vấn đề cần phải tập trung đẩy mạnh đầu tư và tạo điều kiện cho ngành nghiên cứu Hán Nôm được phổ cập và chuyên sâu hơn, đặc biệt là trong giới nghiên cứu khoa học xã hội. Phương pháp nghiên cứu thực thể sẽ giúp chúng ta có cái nhìn ngày càng toàn diện và chính xác hơn về thực thể được nghiên cứu. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu cụm di tích này như một trường hợp nghiên cứu điển hình. Nhân đây, cũng xin được nêu lên một vài vấn đề mang tính lý thuyết về việc nghiên cứu thực thể (nhận biết đối tượng trong mối quan hệ không thể tách rời giữa các bình diện khác nhau, mà trong nghiên cứu khoa học ngày nay là thuộc về các ngành khoa học khác nhau), đòi hỏi sự vận dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp: vừa phải biết đi sâu theo những “nhát cắt” chuyên ngành, vừa phải kết hợp với cái nhìn, rồi từ đó, vận dụng những tri thức để thực thi một phương pháp nghiên cứu xuyên – liên – đa ngành, đặng có thể thức nhận đối tượng trong tính toàn vẹn vốn có trong trạng thái tồn tại tự nhiên của nó.
Tài liệu tham khảo 1. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ (bản dịch), Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ tục biên (bản dịch), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (bản dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.
Trần Thị An Đặc trƣng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014. Trần Thị An, Bản sắc xứ Thanh - nhìn từ cội nguồn văn hóa truyền thống, Tạp chí Khoa học xã hội, số 4 (101), tr. Trần Thị An, Đặc điểm văn hóa xứ Thanh - nhìn từ giới hạn vùng miền của văn hóa Việt Nam, Hội thảo “Giải pháp phát huy giá trị truyền thống của con người Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Thanh Hóa, 4/2016. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chƣơng loại chí, Tập I, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960.
Ninh Viết Giao, Địa chí văn hóa Hoằng Hóa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995. Đinh Gia Khánh - Cù Huy Cận (chủ biên): Các vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1995. Địa chí Thanh Hóa, Tập II: Văn hóa xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, Di sản văn hóa xứ Thanh trên đƣờng hội nhập và phát triển, Nxb.
Ngô Đức Thịnh, Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ, TP HCM, 1993. Tạ Chí Đại Trường, Thần, Ngƣời và đất Việt, bản tái bản năm 2006, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Khổng Tử, Kinh Thi, Nxb Văn học, H. Hoàng Bá Tường, Tục thờ thần Độc Cƣớc ở một số làng ven sông biển tỉnh Thanh Hóa, Luận án tiến sĩ Văn hóa học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.
Trần Ngọc Vương. Thực thể Việt, nhìn từ các tọa độ chữ, Nxb Tri thức, 2010. 12 CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỰC TRẠNG DI VĂN, DI VẬT HIỆN TỒN TRONG CỤM DI TÍCH ĐÌNH THANH NGA Lê Tùng Lâm “Toét mắt là tại hƣớng đình Cả làng cùng toét riêng mình em đâu” Trong tâm thức người dân Việt, ngôi đình là một không gian công mang tính Thiêng2, có thể chi phối sự thành bại thịnh suy của cả cộng đồng. So với những không gian công khác trong làng như chùa, chợ; ngôi đình có vị thế trang trọng hơn hẳn – là một trung tâm chính trị, xã hội, tín ngưỡng, văn hóa.
Làng Việt Nam vốn là một tổ chức có tính tự trị. “Phép vua thua lệ làng”, làng chịu trách nhiệm với chính quyền phong kiến về hai vấn đề chính: thuế khóa và quân dịch, còn những luật lệ khác chưa chắc đã được thực thi. Những công việc chung của làng, được bàn bạc quyết định giữa sân đình trang nghiêm, nơi một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Và cũng ở chính nơi này, những nghi lễ linh thiêng được tổ chức, những lễ hội đông vui của ngày hội làng giúp người dân quê tạm thoát khỏi nhịp sống đơn điệu, tẻ nhạt thường ngày.
Trong phần này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến ngôi đình làng với tư cách là một cơ sở thờ tự. Đình là nơi thờ thần Thành hoàng làng. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng vốn bắt nguồn từ Trung Quốc. Thành 城 là bức tường được dựng lên nhằm mục đích phòng thủ cho một khu vực nhất định, 隍 hoàng là con hào được đào sâu bên ngoài thành, khi dẫn đầy nước vào hào thì gọi là 池 trì.
Như vậy, ban đầu “thành hoàng” là từ chỉ hai công trình phòng ngự thường đi liền với nhau. Thư tịch sớm nhất ghi lại 2 từ này đi liền với nhau là bài Lƣỡng đô 2 Nguyễn Mạnh Tiến, Sống đời của chợ, Nxb Hội Nhà văn, 2017, tr. 13 phú của Ban Cố đời Hán: “Kinh sư tu cung thất, tuấn thành hoàng” (Kinh đô sửa cung thất, dựng thành đào hào). Còn về việc thờ phụng Thành hoàng ở Trung Quốc thì cứ liệu sớm nhất là truyện Mộ Dung Nghiễm trong Bắc Tề thƣ3.
Năm Thiên Bảo 6 đời Tề Văn Tuyên đế, Mộ Dung Nghiễm trấn thủ thành Dĩnh, bị quân Lương tấn công, chiếm giữ đường thủy, tình thế cực kỳ nguy cấp. Mộ Dung Nghiễm liền cầu khấn thần Thành hoàng trong thành, kết quả sóng nước dâng nghiêng trời, quân Tề thắng trận. Qua đây có thể thấy địa phương nằm trong những bức tường thành cao hào sâu này chính là một trong những hình thức ban đầu của thành thị, Thành hoàng là vị thần bảo hộ cho thành thị. Còn ở Việt Nam, vị Thành hoàng đầu tiên được phong tặng trong lịch sử là thần sông Tô Lịch.
Thời Đường Mục Tông, do thần có uy linh hiển hách nên Lý Nguyên Gia xin triều đình phong ngài làm Thành hoàng thành Đại La. Sau này, Cao Biền lại phong ngài là Đô Phủ Thành Hoàng Thần Quân. Triều Lý phong ngài là Quốc Đô Thăng Long Thành Hoàng Đại vương, đến nhà Trần thì gia phong là Báo Quốc Trấn Linh Định Bang Quốc Đô Thành Hoàng Đại vương4. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam có sức ảnh hưởng khá mạnh.
Có điều không phải vị thần Thành hoàng nào ở nước ta cũng được thờ phụng ở một vùng đất được bao bọc bởi “thành cao hào sâu”. Sau nhiều lũy tre làng giản dị, tục thờ Thành hoàng vẫn tồn tại và phát triển. Trong những trường hợp này, có lẽ chúng ta nên hiểu do ảnh hưởng của quá trình Nho giáo hóa, những vị thần vốn bảo hộ cho người dân đất Việt đã phải khoác lên mình tấm áo mới cho hợp với phong khí đương thời. Đình Thanh Nga chính là một trường hợp như vậy.
Đình Thanh Nga là một di tích lịch sử văn hóa nằm trên một vùng quê yên bình, thuộc địa bàn xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Theo lời kể của người dân địa phương thì trước kia trong 3 韦凡州. 中越城隍信仰的對比研究. Around Southeast Asia 2010.
4 孫衍峰. 越南人的城隍信仰. 解放軍學院外語學報. Vol 26 No 5, September, 2003.
14 làng còn có một số đền miếu khác nhưng hiện giờ đều đã không còn. Kiến trúc của di tích còn lại duy nhất này cũng đã bị xâm phạm rất nặng nề. Nếu trước kia khuôn viên đình chạy thẳng ra đến bờ sông thì bây giờ án ngữ trước mặt tiền của đình là một con đường dân sinh chạy xuyên làng, tiếp đó là một số công trình công cộng khác rồi mới ra đến bờ sông. Phần đất hai bên đình cũng bị người dân lấn chiếm xây thành nhà ở.
Từ một ngôi đình hoành tráng, bề thế với khuôn viên rộng rãi, có minh đường là dòng sông xanh mát giờ chỉ còn là một công trình kiến trúc nhỏ, nửa cũ nửa mới, nằm lọt thỏm trong khu dân cư. Nhiều bộ phận trong đình đã được tôn tạo, tu bổ bằng các loại vật liệu xây dựng hiện đại như xi măng, gạch đá, sắt thép… phần nào làm mất đi vẻ cổ kính, trầm mặc vốn có. Những năm gần đây, tuy người dân đã ít nhiều có ý thức bảo vệ, giữ gìn di tích nhưng do hạn chế về nhiều mặt nên hiệu quả vẫn chưa được là bao, thậm chí còn gây ra những sai lầm đáng tiếc. Tên đình Thanh Nga đƣợc tôn tạo sai (Ảnh chụp năm 2011) Đơn cử như ngay trước cửa đình là ba chữ Hán ghi tên đình được đắp bằng xi măng 青俄亭 Thanh Nga Đình.
Mới nhìn thì không thấy vấn đề gì nhưng khi đối chiếu với các bản sắc phong ở địa phương 15 chúng tôi đã phát hiện thêm một nhầm lẫn tai hại, tên của ngôi đình chính xác phải viết là 菁莪. Những hộ dân ngày trước đã tham dự vào việc phá dỡ các đền miếu trong làng giờ đều đem trả những đồ thờ tự mà họ đã thu nhặt, hoặc chiếm dụng. Tuy nhiên do sự tàn phá của thời gian, việc phân loại, sắp xếp những đồ vật này cũng gặp rất nhiều khó khăn. Về kiến trúc thì ngôi đình có thể chia làm ba phần chính: tiền tế, trung tế và hậu cung.
Gian tiền tế hiện đặt ban thờ Tứ phủ công đồng. Trung tế đặt ban thờ tượng Hồ Chủ tịch. Còn trong hậu cung có đặt ba ban thờ. Ban thờ ở chính giữa hậu cung thờ thần Thành hoàng Gia Bác Dương Vũ và thần Độc Cước.
Ban thờ bên trái thờ thần Ông Già Nuôi và thần Cao Sơn. Ban thờ bên phải thờ ba vị nữ thần là Từ Huệ Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù tôn thần, thần Phương Dung Gia Hạnh và thần Nhu Ý Trợ Thuận.