CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về mỏ X 1.1 Vị trí địa lý Mỏ X nằm ở phần Tây – Tây Nam bồn trũng Cửu Long thuộc thềm lục địa Việt Nam cách thành phố Vũng Tàu 135 km về phía Đông Nam và trải rộng trên diện tích 15 x 15km. Mỏ X nằm dọc theo hướng Tây Nam đới trung tâm Rồng – Nam Rồng. Vị trí mỏ X 1.2 Địa tầng Địa tầng mỏ X đặc trưng bởi đá móng kết tinh và trầm tích: Paleogene (Oligocene), Neogene (Miocene, Pliocene) và trầm tích đệ tứ (Hình 2).1 Móng trước Kainozoi Móng trước Kainozoi của mỏ X thuộc hệ tần Định Quán – Đèo Cả.
Toàn bộ cấu trúc móng được bao phủ bởi lớp trầm tích E1 với bề dày khác nhau. Học viên – Nguyễn Khoa Lâm Trình Ͷ Luận văn thạc sĩ Qua các số liệu mẫu lõi tại các giếng khoan của mỏ, đá móng đặc trưng bởi đá magma kết tinh, thành phần chủ yếu gồm granite và diorite. Do yếu tố kiến tạo, móng bị phá hủy hình thành hệ thống đứt gãy và khe nứt sinh kèm. Hệ thống khe nứt thường bị lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh là kết quả của sự biến đổi nhiệt dịch như cancite, zeolite, chlorite.
Cũng theo số liệu mẫu lõi, giá trị độ rỗng trung bình từ 1-3% trong đó 20- 40% là độ rỗng khe nứt.2 Hệ Paleogen – Thống Oligocene – Hệ tầng Trà Cú Hầu hết các giếng khoan thăm dò đều cho thấy sự có mặt của hệ tầng Trà Cú, tập địa chấn F. Hệ tầng được bao phủ bởi bề mặt bất chỉnh hợp tương ứng với tầng SH-11. Hệ tầng này chủ yếu được hình thành bởi lớp sét kết ở phần trên và bùn kết ở phía dưới trong trầm tích lục địa, đầm hồ. Quan sát tại một số giếng khoan, bề dày của lớp này có khi lên đến 100m, và dưa trên tài liệu địa chấn, lớp trầm tích này có chỗ đạt trên 500m.
Nhưng có sự vắng mặt của hệ tầng này ở vùng nâng phía Đông – Đông Nam mỏ X.3 Hệ Paleogen – Thống Oligocene – Hệ tầng Trà Tân Hệ Trà Tân được phân bố rộng khắp cả bồn Trũng Cửu Long. Tại vùng nghiên cứu có sự xuất hiện của hệ tầng Trà Tân dưới (tập E), giữa (tập D), trên (tập C) và tương ứng với các tầng phản xạ SH-10, SH-8, SH-7. Ở vùng trung tâm cấu trúc phía Đông, hệ tầng Trà Tân phủ trực tiếp lên mặt móng trong khi ở khu vực khác, hệ tầng Trà Tân được phủ lên tầng trầm tích Trà Cú. Tập trầm tích E nằm dưới cùng của hệ tầng Trà Tân, được hình thành do sự kết hợp của sét kết và cát kết với bề dày thay đổi từ 173m đến 397m.
Tầng phản xạ SH- 10 đóng vai trò là ranh giới của tập E và tập D tương ứng với bề mặt bất chỉnh hợp. Bề mặt này rất dễ nhận biết bởi sự suy giảm giá trị GR và DT đồng thời với sự gia tăng của đường log điện trở. Ranh giới này cho thấy sự thay đổi chủ yếu thành phần đất đá từ sét sang cát kết. Trầm tích được hình thành trong môi trường quạt phù sa, Học viên – Nguyễn Khoa Lâm Trình ͷ Luận văn thạc sĩ bắt đầu từ quá trình hình thành bồn trũng.
Lên trên dần, độ hạt trầm tích tăng dần và thay đổi môi trường lục địa và trầm tích biển nông. Trầm tích D nằm trên tập E được hình thành bởi các lớp sét có nguồn gốc đầm lầy. Lớp trầm tích này có một lượng lớn vật chất hữu cơ và đóng vai trò của tập chắn khu vực. Tầng phản xạ SH-8 tương ứng như ranh giới phía trên của tập D, giá trị GR tăng đồng thời giá trị điện trở giảm khi qua tầng SH-8.
Phía trên cùng của hệ tầng Trà Tân là tập trầm tích C, thành phần thạch học của tập C là sự kết hợp của sét – bột kết cùng các nguồn gốc lục địa. Độ hạt của cát kết gồm nhiều loại hạt khác nhau từ mịn đến trung bình. Tập C có bề dày trung bình từ 60 – 230m, nhưng chỉ dày 44m tại giếng khoan A. Quan sát giá trị đường cong DT có sự suy giảm tương ứng với giá trị đường điện trở khi đi qua nóc tập C đồng thời tương ứng với tầng phản xạ SH-7.4 Hệ Paleogen – Thống Miocene hạ - Hệ tầng Bạch Hổ Hệ tần Bạch Hổ nằm giữa 2 tầng phản xạ SH-7 và SH-5.
Trầm tích của tập này là cát kết đặc trưng bởi sự xen kẹp của các lớp sét mỏng, với độ hạt của cát kết từ mịn đến trung bình, được lắng đọng trong môi trường quạt phù sa và biển nông. Tầng giữa đặc trưng bởi sự xen kẹp của cát và sét với bề dày trầm tích rất đều nhau. Trầm tích tầng này được tích tụ trong môi trường eo biển và biển nông. Phần trên cùng là lớp sét montmorilloniet chính là sét rotalia.
Tầng sét này phát triển rộng khắp cả bồn trũng Cửu Long với bề dày trung bình từ 50 – 100m. Nóc tập sét này tương ứng tầng phản xạ SH-3. Đồng thời quan sát đường DT có sự gia tăng giá trị.5 Hệ tầng Paleogene – Thống Miocene trung – Hệ tầng Côn Sơn Hệ tầng Côn Sơn nằm trên tầng phản xạ SH-3, thành phần chủ yếu là cát kết đôi khi xen kẹp với đá bột kết. Hệ tầng Côn Sơn có bề dày trầm tích từ 497-782m, được lắng đọng trong môi trường biển nông.
Học viên – Nguyễn Khoa Lâm Trình Luận văn thạc sĩ 1.6 Hệ Paleogen – Thống Miocene trên – Hệ tầng Đồng Nai Hệ tầng Đồng Nai nằm giữa 2 tầng phản xạ SH-2 và SH-1. Thành phần thạch học là cát kết thạch anh xem kẹp với đá sét – bột kết xen kẹp với nhau thành những lớp mỏng, được hình thành trong môi trường biển nông. Bề dày trung bình của hệ tầng này từ 534 – 820m.7 Hệ tầng Paleogen – Thống Pliocene – Hệ tầng Biển Đông Thành phần thạch học gồm cát mịn màu xanh, trắng, có độ mài tròn trung bình, độ lựa chọn kém. Trong cát có cuội thạch anh hạt nhỏ.
Bề dày từ 400-700m. Lắng đọng trong môi trường trầm tích biển nông ở phần Tây bồn trũng, biển nông sâu hơn ở phần Đông bồn trũng. Học viên – Nguyễn Khoa Lâm Trình Luận văn thạc sĩ Hình 1. Cột địa tầng 1.2 Đặc điểm địa chất móng mỏ X Từ rất nhiều nghiên cứu từ địa chất, địa vật lý trong khu vực này, bức tranh chung về đặc điểm địa chất mỏ X được xác định như sau: Học viên – Nguyễn Khoa Lâm Trình ͺ Luận văn thạc sĩ • Móng mỏ X là một cấu trúc nhô cao, nằm theo phương nằm ngang.
Độ sâu khép kín của mỏ là 3850m, mỏ X có chiều dài là 10km, rộng 2km, đỉnh móng được nâng lên ở độ sâu 3330m. • Cấu trúc mỏ X có hướng Đông – Tây. • Khối móng được bao phủ bởi một đứt gãy lớn hướng Đông – Tây ở phía Nam và hệ thống đứt gãy lớn hướng Đông Bắc – Tây Nam ở phần Tây. Mặt cắt địa chấn mỏ X 1.1 Thành phần đá móng mỏ X Thành phần thạch học của mỏ X được phân tích dựa trên mẫu vụn khoan và mẫu lõi (từ độ sâu 3400 đến 3401m) ở giếng A.
Kết quả phân tích tia X cho thấy thành phần đá móng chủ yếu là đá granite bị nứt nẻ, thành phần thay đổi khá nhiều: • Quartz: từ 16% - 20% ngoại trừ độ sâu 3400.9% Học viên – Nguyễn Khoa Lâm Trình ͻ Luận văn thạc sĩ • Feldspars: có thành phần orthoclase và microline với hàm lượng từ 6.5% (3830 m- 3840m), thay đổi chủ yếu là từ 16% đến 20%. • Plagioclases: từ 5% (3400,32m) đến 32.3% (3400,78m), thay đổi chủ yếu từ 20 - 28%.3 – 9,9% (3400,61-3400,78m) đến 19,5% (3350-3360m), chủ yếu là từ 11 - 18%.61m), chủ yếu là khoảng 4-8%. • Cát Oxit như SiO2 (72.54%), và các oxit khác.1 Đặc điểm biến đổi Do đá macma kết tinh từ dung thể macma nóng chảy ở nhiệt độ cao nên độ rỗng nguyên sinh của chúng rất thấp, thực tế là độ rỗng không hiệu dụng. Nghiên cứu mẫu lõi trong giếng khoan và phân tích hệ quả của các quá trình địa chất cho thấy không gian rỗng của đá móng được hình thành do nhiều quá trình địa chất khác nhau như: • Sự co nén do mất nhiệt khi đông nguội của dung nham macma nóng chảy trong thời gian kết tinh của đá móng.
• Quá trình biến đổi hậu macma với sự tác động của hơi, khí và dung dịch tách ra từ dung nham khi kết tinh. • Hoạt động kiến tạo. • Quá trình nhiệt dịch tạo ra các hang hốc (do các dung dịch xâm nhập từ các khối magma và dung dịch từ trầm tích). • Quá trình biến đổi ngoại sinh (phong hóa bề mặt, tăng tải trong của trầm tích ở các hố sụt, tồn tại lớp phủ.) Học viên – Nguyễn Khoa Lâm Trình ͳͲ Luận văn thạc sĩ Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mẫu lõi của đá móng cho thấy chỉ có các quá trình kiến tạo và các hoạt động nhiệt dịch mới đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành không gian lỗ rỗng trong đá móng.
Các quá trình kiến tạo hình thành đới nứt nẻ trong móng tạo độ rỗng thứ sinh, trong đó các khe nứt thường có đường kính thay đổi từ 0.5mm, đôi khi chúng được lấp đầy bởi tập hợp các hạt thạch anh, fenspat vỡ vụn kích thước 0.2 Đặc tính không gian rỗng Kết quả phân tích cho thấy đặc tính vật lý thạch học của đá móng mỏ X thay đổi đáng kể. Giá trị trung bình độ rỗng chung vào khoảng 4 – 6%, đôi khi đạt đến 9 – 12% trong những đá biến đổi mạnh. Hầu hết không gian rỗng thường gặp đá móng là lỗ rỗng dạng khe nứt/ vi khe nứt và lỗ rỗng dạng hang hốc/ vi hang hốc. Tuy nhiên, ở những nơi bị biến đổi mạnh, kiểu không gian rỗng là sự tổng hợp của các loại không gian rỗng nói trên.
• Độ rỗng khe nứt/ vi khe nứt thay đổi trong một phạm vi lớn cả theo chiều sâu và theo khu vực. Giá trị độ rỗng khe nứt thay dổi trong khoảng 0 -7. Kích thước khe nứt hở quan sát trên mẫu lõi có độ dài từ 5 – 10 mm, độ rộng 0. Sự phân bố của khe nứt thường rất phức tạp, tuy nhiên chỉ có các khe nút có sự liên thong với nhau mới có giá trị quan trong trong việc chứa dầu khí.
• Độ rỗng hang hốc/ vi hang hốc dao động 0 – 5% đôi khi đạt giá trị 10%. Lỗ rỗng hang hốc có kích thước nhỏ hơn 1mm, chủ yếu từ 0.