CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE MONG COC 1. Téng quan tình hình thiết kế móng cọc trong nước và thé LLL Khái niệm nền, mong [én công ình: Nén công rin là chigu diy lớp đắt, đá nằm dưới đảy mỗng, có ác dụng tiếp thu tải trong công trình bêntrên do móng truyỄn xuống từ đồ phân tin tải trọng vio bên trong nền. Nén là một không gian có giới hạn dưới đáy móng, giới hạn này nó bắt đầu từ đáy mồng va phát triển ïđộ sâu Hạc tinh từ đáy móng.
Hye gọi là chỉ chặt và được xác định từ điều kiện tính lún móng. 1: Hình ảnh nền và móng công trình (nguồn: Google) Meng công tình: Móng công trình là một bộ phân kết cầu bên dưới của công trình, nó liên kết với kết cau chịu lực bên trên như cột, tường. Móng có nhiệm vụ tiếp thu tải trọng từ công tình và trayén ti trọng đó phân tin xuống nén, Khoảng cách từ đấy mồng tới mặt đít tự nhiên gọi l chiều sâ chôn mồng 11. Phân loại nền, ming Phân loại nền: Gồm bai loại là nễnthiên nhiền và nén nhân tạo "Nên thiên nhiên: Là nền đất với kết cấu tự nhiên, nằm ngay sát bên đưới đáy móng chịu trực tip tải trọng của công tình và khi ây dựng công th không cần ding các biện pháp kỹ thuật để cải thiện các tính chất xây dựng của nền.
a Nền nhân tạo: Khi các lớp đắt sát bên đưới móng không đủ khả năng chịu lực với kết cấu tự nhiên, can phải áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao khả năng chịu lực của nên. Phân loại theo độ sâu chôn móng: Móng nông, móng sâu. Xông nông: Là các loại móng được thi công trên hỗ đảo, sau đó lắp đt lại, độ sâu chôn móng không qué lớn thường từ 1. 3m, trường hợp đặc biệt chiềus u chôn móng có thể chon 56m, 'soài ra còn dựa vào điều kiện làm việc của đất nên, khi chịu tải trong nếu không tính đến ma sắt hông của đắt ở xung quanh với móng đó là mồng nông, ngược.
lại là móng sâu. Mong sâu: La các loại mỏng khi thi công không edn đào hé móng hoặc chỉ dio một phần. rồi dùng thitb thi công dé hạ móng độ sâu thiết Các loại mông sâu thường gặp Méng cọc (đồng, p), cọc khoan nhồi, móng giếng chìm, giếng chim hơi ép 1. Khái niệm về móng cọc và phân loại cọc 1.
Tổng quan VỀ ming cọc “Móng cọc là một trong những loại được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Người ta có thể đồng, hạ những cây cọc lớn xuống các ting đắt sâu, nhờ đó làm tăng khả năng chịu tải trọng cho mồng, thu ào tải trong, quy mô kích thước của công trình và tính chất các ting i dưới nền công trình khi đó sẽ tính toán và lựa chọn loại móng phù hợp, “Trong khuôn khổ luận văn này em xin nh bảy ngắn gọn vé mồng cọc như sau: » » ni 3 XMồng cọc: Là các loại móng gồm có cọc và đãi cọc. dng dé truyền ải trọng của công trình xuống lớp dat có khả năng chịu tai để công trình bên trên đạt các yêu cầu của trạng. thải giới hạn và đảm bảo ổn định.
Đài cọc: Dai cọc là kết cầu dùng để liên kết các cọc lại với nhau và phân bổ tải trọng của công trình lên các cọc. Nội lực ở cọc do tải trọngkết cầu phần trên truyền xuống aqua hệ di bản chit sinh ra do chuyển vị ại điểm liền kết cọc với hệ đài. Có thể phân ra làm đài tuyệt đối cứng và đải mềm trong tính toán thiết kế hệ cọc. Phân loại coc Coe là vật thé dang thanh hoặc bản được cắm vào dit theo phương trục của nó.
Coe là kết cấu có chiều dài lớn hơn so với rộng tiết diện ngang, được đồng hay thi công tại chỗ vào lòng đất, đá, đ truyỄn tải trong công trình xuống các ting đất, đá, sâu hơn nhằm, cho công trình bên trên đạt các yêu cẩu của trang thái giới hạn quy định. dưng, cọc được dùng với nhiều mục địch khác nhan như để gia cổ nền đất (Coc te, cọc trim, cọc cát.) làm móng cho công trình (cọc bê tông cốt thép, cọc thép, cọc xỉ ming đất )¡ ầm vách đứng ngăn đất hoặc nước (cọc vấn, cọc ei.5: Loại cọc ống thép và cọc vấn (nguồn: Google) 1.4, Tổng quan về móng cọc trên thé giới “rên thể giới móng cọc đã được sử dung rit sém tử Khoảng 1200 năm rước, những người dân thời kỳ đồ đá của Thụy Sỹ da bit sử dụng các cọc gỗ cắm xuống các hỒ nông diy dựng nhà trên các hồ cạn (Sower, 1979). Cũng trong thời kỳ này người ta đóng. sắc cọc gỗ để làm tường chắn đất, đùng thân cây để lâm mồng nhà.
Coe khoan nhi là cọc bê tông được đổ tại chỗ trong các lỗ tạo bằng phương pháp khoan hoặc ống thiết bị, công nghệ cọc khoan nhi đã được sir dụng đầu tiên cho Téa thị chính thành phổ Kansas, Mỹ (1890), đến đầu những năm 1950 mới được sử dụng phổ biến “Tại Châu Âu, công nghệ cọc xi măng đắt được nghiên cứu và ứng dụng bắt đầu ở Thụy Điển và Phin Lan bit đầu từ năm 1967. Nước ứng dụng công nghệ cọc xi ming dit 7 nhiều nhất là Nhật Bản và nước ving Scandinaver. Theo thống kể của hiệp hội CDM (Nhat Bản), tính chung trong giai đoạn 1980-1996 có 2345 dự án. Riêng từ 1977 đến 1993, lượng đắt gia cổ bing xi mang ở Nhật vào khoảng 23,6 triệu m cho cúc dự ấn ngoài biển và trong đất liền, với khoảng 300 dự án 2] Hình 1.7: Méng của một công trình sử đụng công nghệ cọc xỉ măng dd (nguồn.8: Cét dds trận xi mang để gia cổ hành hỗ đảo (nguồn: Google) 8 ‘Cong nghệ Móng cọc ống thép dạng giếng SPSPF (Stecl Pipe Sheet Pile Foundation) được nghiên cứu phát triển từ năm 1964 tại Nhật Ban và được áp dụng đầu tiên cho móng cầu Isikari năm 1969 và ngày cảng được ứng dụng rộng rầ.
Theo thống kệ, tính đến năm 2010 đã có trên 2000 móng cầu xây dựng tại Nhật Bản sử dụng công nghệ Móng cọc ống thép dang giếng. Không chỉ có tại Nhật Bán, công nghệ Móng cọc dng, thép dạng giếng hiện nay đã được nghiên cứu, ứng dụng tại nhiều nước khác trên thé giới. 9: Coe ống thép sử dung trong thi công khung vây và mồng tru cầu (nguẫn: Google) ‘Coe Barrette là một loại cọc khoan nhỏi, hình dạng cọc thường là hình chữ nhật có kích thước (0. Công nghệ xử lý nền bằng cọc Barrette đã được nhiều nước trên thể giới sử dụng từ những năm 1970.
ở châu Âu, châu Mỹ và nhiều nước trên thể giới có nhiều công trình nhà cao tang đều được xây dựng có ting him, Một số công trình đặc biệt có thể xây dựng được nhiều ting him "Đập ngăn sông Ems (LB Đức) có nhiệm vụ ngăn triều ở hạ lưu. Đây là công trình mới "hôan thành năm 2002 trên cơ sở rút kinh nghiệm các công tinh của Halan và Ảnh. Công trình gồm 7 cửa kéo lên thing (vertical lifting gate), trong đó 4 cửa rộng có khẩu đội {63,5m và | cửa 50m, và Ì cửa âu cho phép tiu biển di qua rong 60m + | cửa âu cho giao thông thủy nội địa (inland navigation) rộng 50m. Công trình được xử lý nền bằng cọc thép hình LL.
Tổng quan về móng cọc sử dụng tại Việt Nam 1. Mông cọc tại Việt Nam và các tiêu chuẩn áp dung Móng cọc được dùng rộng rãi trong các lĩnh vực xây dung các công trình thủy lợi, dân. dung, công nghiệp, cầu đường, cảng biển. Công nghệ móng cọc không ngừng phát triển.
Chất lượng thi công móng cọc ngày cảng được nâng cao, các phương tiện giám. sát, quan lý chất lượng móng cọc cũng hiện dai hơn. Cùng với sự phát triển của các loại cọc i các tiêu chuẩn thiết kế cũng ra đời và phục vụ cho công tác tính toán thiết kế mồng cọc như: chuẩn ngành 20TCN 21:1986 Móng cọc - Tiêu chuẩn thiết kể, Tiêu chuẩn này áp dung cho thiết kế các mỏng cọc của nhà vã công trình. Tiêu chuỗn này hướng dẫn tỉnh toán thiết kế nhiều các loại cọc như: Coe khoan nhỗi, cọc đồng BTCT, cọc thp, “Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 189:1996 về móng cọc tiết diện nhỏ - tiêu chuẩn thiết kể.
“Tiêu chuẩn này áp dụng cho các loại cọc có chiều rộng tiết diện nhỏ hơn 250 mm, được thi công bằng phương pháp đóng hoặc ép. “Tiêu chuẳn xây dựng TCXD 205:1998 về mng cọc - tiêu chun thiết kể. Tiêu chun thiết kế móng cọc được áp dụng cho các công trình thuộc lĩnh vực xây dựng din dụng. và công ngl.
giao thông, huỷ lợi và các ngành có lên quan khác. Tiêu chuỗn này hướng dẫn tinh toán thiết kế nhiều ác loại cục như: Cục khoan nhỗi, cọc đông BTCT, cọc thép, 'TCVN 1004:2014 - Móng cọc - Tiêu chuẩn thiết kế. Tiêu chuẩn nay được áp dung để thiết kế móng cọc của nhà và công trình xây dựng mới hoặc công trình cải tạo xây dựng. Tiều chuẳn này hướng dn tinh tn thiết kể nhiều các loi cọc như: Cục khoan cọc đồng BTCT, cọc thép.
Ngoài ra còn rất nhiễu các tiêu chuẩn về thi công, kiểm tra chất lượng của cọc, các tiêu chuẩn về địa chất phục vụ cho công tác tính ton thiết kế móng cọc. Tổng quan v mồng cọc tại Việt Nam Coe te và cạc trầm là giải pháp công nghệ mang tính truyền thống để xử lý nên cho công tình có ải trong nhỏ trên nền đất yếu. Đóng cọc tr là một phương pháp gia cổ in nền đất yếu hay dùng trong dân gian thường chỉ dùng đưới móng chịu tải trong không lớn (móng nhà dan, móng dưới cồn ). Miễn nam thường dùng cọc cử trầm do nguyên Tiệu sẵn có.
Coc trầm và tre có chiều dài từ 3 ~ 6m được đóng để gia cường nén đắt với mục dich làm tăng khả năng chịu tải và giảm độ lún, Không đóng cọc tre và cọc trim trong đắt cát vì đất cát không giữ được nước, thường chỉ đóng trong nền đắt sét có nước. “Thông thường người ta đóng (16-25) cọc/m. san túi en me Hl \ inh 1, 13: Dùng cọc tram để gia cổ bản đáy bể tiêu năng cổng Tir năm 2000 đến 2006 cọc bê tang cốt thép đã được áp dụng tại một số các công trình thủy lợi có quy mô kích thước lớn tại đồng bằng Sông Cửu Long như: Công trình Cổng đập Ba Lai xây dụng tại tinh Bn Tre từ năm 2000 đến 2002 xử lý nền bằng cọc bê tông cốt thép (35x35)em và công trình Cổng đập Láng Thé được xây dựng tại tỉnh Trả Vĩnh từ năm 2003 đến 2006 cũng được xử lý nén bằng cọc bê tông cốt thép (35x35)em, 2 Hình 1.