Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Những khái niệm cơ bản về quản lý nhà nước về hộ tịch có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm hộ tịch Có nhiều cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau về từ hộ tịch nhưng nhìn chung đều có sự tương đồng về cách giải nghĩa từ hộ tịch. Theo Giản yếu Hán Việt Từ điển định nghĩa hộ tịch “Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr.
Theo Từ điển Hán - Việt từ nguyên định nghĩa hộ tịch “Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường” [22, tr. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học "Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật" [27, tr. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ khoa học xã hội nhân văn thì Hộ tịch “là sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo đơn vị hộ” [24, tr. Khái niệm “hộ tịch” là từ Hán Việt chưa một văn bản nào định nghĩa một cách cụ thể, rõ ràng, chính vì thế đã gây không ít khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy nhiên, khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hoá thay thế không được lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Theo đó, định nghĩa về “hộ tịch” được duy trì, kế thừa cách định nghĩa từ Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 10 năm 1998 về đăng ký hộ tịch quy định “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” [10] cho đến Nghị định 158/2005/NĐ- 5 luan an CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” [16] và đến Luật Hộ tịch năm 2014 quy định rằng “ Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết” [32]. Tuy nhiên cách định nghĩa này mang ý nghĩa liệt kê những sự kiện xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến lúc chết. Với cách định nghĩa trên chưa xác định được rõ nội hàm khái niệm hộ tịch.
Vì vậy, luật hộ tịch còn nêu thêm khái niệm khác là đăng ký hộ tịch “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư” [32]. Theo đó đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện. Thông qua hoạt động này nhà nước xác lập cơ sở pháp lý để công nhận và bảo hộ các quyền con người cơ bản, quyền và nghĩa vụ của công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Rõ ràng đăng ký và quản lý hộ tịch là hoạt động cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận sự ra đời, tồn tại của cá nhân, xác định thông tin nhân thân cơ bản, quan trọng của cá nhân, là cơ sở pháp lý để nhà nước bảo hộ quyền con người, quyền công dân.
Điều đó thể hiện qua hai hành vi cụ thể: Thứ nhất: thực hiện việc xác nhận những sự kiện hộ tịch của mọi cá nhân một cách đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan, chính xác để đảm bảo cơ sở pháp lý vững cho cá nhân thực hiện các quyền nghĩa vụ của mình theo khoản 1 điều 3 Luật hộ tịch quy định “xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch bao gồm “ khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử”. 6 luan an Thứ hai: thực hiện việc ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân, theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cụ thể “Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự”, và thực hiện việc “ Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài” và “Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật” tại khoản 2,3,4 Điều 3 Luật hộ tịch. Theo đó khi thực hiện việc xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch và ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân, theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đảm bảo nguyên tắc đăng ký hộ tịch: - Tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân; - Mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác; - Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật; - Cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đó thường trú để thực hiện ghi chú tiếp vào sổ hộ tịch tương ứng; - Mọi sự kiện hộ tịch sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch phải được cập nhật kịp thời, đầy đủ vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
Nội dung khai sinh, kết hôn, ly hôn, khai tử, thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân 7 luan an tộc của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch là thông tin đầu vào của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Bảo đảm công khai, minh bạch thủ tục đăng ký hộ tịch. Khái niệm hộ tịch có yếu tố nước ngoài Trước đây, khi xã hội còn khép kín, chưa mở cửa, việc giao thương giữa các quốc gia bị hạn chế rất nhiều, gần như là không diễn ra, cho nên các quan hệ xã hội chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia. Quan hệ hộ tịch cũng vì thế mà chỉ tồn tại giữa các công dân trong cùng một quốc gia.
Ngày nay, khi mà tư tưởng bế quan tỏa cảng đã trở nên lỗi thời, công dân của mỗi quốc gia không chỉ tham gia các quan hệ xã hội khép kín trong phạm vi quốc gia mình mà còn hướng tới các quan hệ có tính quốc tế. Việc công dân của các quốc gia khác nhau xác lập các quan hệ xã hội với nhau dần trở nên phổ biến và bình thường. Cũng từ đó quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài xuất hiện và khi xã hội ngày càng phát triển, công dân ở các quốc gia khác nhau trở nên xích lại gần nhau hơn. Các quan hệ có yếu tố nước ngoài càng có nhiều điều kiện phát triển, quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài cũng nằm trong khuynh hướng và yêu cầu đặt ra là phải hoàn thiện pháp luật để kịp thời điều chỉnh các quan hệ này.
Cũng theo đà phát triển đó, pháp luật cũng có yêu cầu phải kịp thời điều chỉnh các quan hệ này, pháp luật hiện nay bảo vệ quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài bằng Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định pháp luật có liên quan. Trong các văn bản quy định pháp luật hiện hành chưa có định nghĩa, giải thích từ ngữ hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1986 cũng đã từng có các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, nhưng một mặt vì kỹ thuật lập pháp còn nhiều hạn chế, mặt khác quan hệ này chưa phổ biến ở thời kì đó nên các quy định này không được chú trọng đúng mức. Từ khi đất nước thống nhất và bước vào thời kì đổi mới, đặc biệt là sự ra đời của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã đánh dấu một bước phát triển đáng kể của pháp luật hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài khi đã dành hẳn một chương riêng để điều chỉnh quan hệ này.
Đồng thời, ngày 01 tháng 2 năm 1989 Hội đồng 8 luan an Bộ trưởng ban hành Nghị định số 12-HĐBT về thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được thay thế bởi Nghị định 184-CP ngày 30 tháng 11 năm 1994 của Chính phủ quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã dành riêng chương XI để quy định về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, gồm kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và vấn đề giám hộ.