Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE MO THU TUC PHA SAN 1. Một số van đề chung về phá sản 1. Khái niệm pha sản “Phá sản” hay “vỡ nợ” là tình trạng xảy ra khá phô biến trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt khi các doanh nghiệp (“DN”) gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt, sự khan hiếm nguồn vốn hay sự quản lý tài chính lỏng lẻo. Ở góc độ kinh tế, phá sản là tình trang mat cân đối giữa thu và chỉ tại một DN hay một công ty mà biéu hiện rõ rệt nhất ở sự mat cân đối ay là tinh trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Ở Châu Âu, khi nói về khái niệm phá sản, người ta thường dùng thuật ngữ “Bankruptcy” hoặc “Banqueroute [21]. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng La Mã “Banca Rotta”, co nghĩa là “chiếc ghế bị gay.” Từ xa xưa, các thương nhân La Mã thường họp với nhau dé xem xét các khía cạnh kinh doanh của từng cá nhân, trong một diễn đàn gọi là “dai hội thương gia”; người nào không trả được nợ thường bị bat làm nô lệ, đồng thời mat luôn quyền tham gia đại hội. Chiếc ghế của người “vỡ nợ”, theo đó, sẽ bị đem ra khỏi hội trường. Vì vậy, người La Mã khi xưa mới dùng thuật ngữ bóng bay “chiếc ghé bị gãy” dé ám chỉ người “phá san” và không còn quyền lợi gì, hay người mat vị thé trong các đại hội thương gia.
Về sau, để quản lý các tình trạng “phá sản” của các thương nhân đồng thời ngăn ngừa những “con nợ” bỏ trốn nhằm tránh hình phạt hay trách nhiệm, các chế định về quản lý và xử lý tài sản của các “con nợ” ra đời rồi dần dần được cải thiện và nâng cấp thành Luật phá sản của nhà nước La Mã cô đại [61]. Cũng ở thời kì này, thuật ngữ “phá sản” được sử dụng phô biến, rất nhiều chuyên gia cho rằng nó bắt nguôn từ tiếng “ruin” trong tiếng La Tinh, có nghĩa là “sự khánh tận” [1, tr. Hiện nay thuật ngữ phá sản đã được sử dụng rộng rãi trong cả khoa học pháp lý và cả trong đời sống thực tế. LPS 2014 ra đời đã giải thích đầy đủ và rõ nghĩa thuật ngữ này.
Tại khoản 2 Điều 4 LPS 2014 quy định “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mat khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá san”. Theo đó phá sản được xem xét dưới hai góc độ: - Dưới góc độ kinh tế: Thuật ngữ “phá sản” bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng La tinh, có nghĩa là “sự khánh tận”. Khái niệm này dùng để chỉ sự mất cân đối giữa thu và chỉ của chủ thể kinh doanh mà biểu hiện trực tiếp của sự mat cân đối ay la tinh trang mat kha nang thanh toan cac khoan ng dén han. Như vậy, khi nói đến một chủ thé kinh doanh bị phá sản, xem xét dưới góc độ kinh tế, có thể hiểu rằng chủ thể kinh doanh đó đã làm ăn thua lỗ, tạo ra những khoản nợ mà không thé chi trả được.
Chủ thể đó đã lâm vào tình trang tài chính không thể giải quyết được dé có thé tiếp tục đứng vững trên thương trường. Đối với một cá nhân, tình trang nay còn gọi là “vỡ nợ”, tức là cá nhân đó không thé trả được các khoản nợ mà mình đã tạo ra. Tuy nhiên, sự tác động của phá sản không phải bao giờ cũng mang ý nghĩa tiêu cực. Xét về mặt kinh tế, bản thân phá sản là một giải pháp hữu hiệu trong việc “cơ câu” lại nền kinh tế, góp phần duy trì sự tồn tại của những doanh nghiệp đủ sức đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng nghiệt ngã.
- Dưới góc độ pháp lý: Phá sản được nhìn nhận là một trình tự, thủ tục tố tụng. Đó là toàn bộ các giai đoạn của việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với chủ thể mắc nợ. Hay nói cách khác, trình tự, thủ tục giải quyết phá sản tương tự như trình tự, thủ tục khởi kiện tại Tòa án, vì phải tuân thủ đầy đủ, chặt chẽ các bước, các giai đoạn để giải quyết một vụ việc. Ở đây, chủ thể kinh doanh sẽ có thể được phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh, tùy thuộc vảo tình trạng tài chính và yêu cầu của chủ nợ.
Như vậy, khái nệm phá sản theo LPS 2014 được hiểu dưới cả hai góc độ kinh tế (mất khả năng thanh toán) và pháp lý (được thực hiện thông qua thủ tục phá sản và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản). Một DN, HTX mất khả năng thanh toán các khoản nợ không bảo đảm và đã đến hạn thì DN, HTX đó chưa chắc đã bị phá sản và cũng chưa gọi là DN, HTX phá sản. Chỉ khi trải qua thủ tục giải quyết vụ việc phá sản và bị Tòa án nhân dân ra quyết định phá sản, DN, HTX đó mới chính thức bị phá sản. Về bản chất, phá sản xuất phát từ tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của con nợ có liên quan.
Do đó, nó tạo nên nghĩa vụ của con nợ và quyền truy đòi nợ của các chủ nợ. Dé giải quyết tình trang này, giữa chủ nợ và con nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau: hoặc là tự giải quyết thông qua thương lượng, đàm phán, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó, đôi khi là chính quyền địa phương nơi con nợ cư trú hay nơi con nợ tiên hành các hoạt động kinh doanh. Quá trình giải quyết “phá sản”, đảm bảo nghĩa vụ của chủ nợ và “giải thoát” trách nhiệm cho con nợ yêu cầu phải có sự can thiệp của pháp luật dé hài hòa lợi ích của cả hai. Theo từ điển tiếng Việt, “phá sản là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không du tra nợ” [51, tr.
Theo từ điển Black Law của nhà xuất ban West Group, thì phá sản (bankruptcy) là “một thủ tục pháp lý, bắt nguồn từ tình trạng mat khả năng thanh toán các khoản nợ, qua đó con nợ được giải phóng khỏi các khoản nợ và phải trải qua một quá trình tổ chức lại có giám sát tu pháp hoặc thanh lý [tài sản hoặc DN] vì lợi ích cua các chủ nợ” [63, p. Đặc điểm của phá sản Phá sản có những đặc điểm cơ bản sau đây: Về bản chat, phá san hay vỡ nợ xuất phát từ tình trạng mat khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của con nợ có liên quan. Do đó, nó tạo nên nghĩa vụ của con nợ và quyền (truy đòi nợ) của các chủ nợ. Đề giải quyết tình trạng này, giữa chủ nợ và con nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau: hoặc là tự giải quyết thông qua thương lượng, đàm phán, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó, đôi khi là chính quyền địa phương nơi con nợ cư trú hay nơi con nợ tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Quá trình giải quyết “phá sản”, đảm bảo nghĩa vụ của chủ nợ và “giải thoát” trách nhiệm cho con nợ yêu 10 cầu phải có sự can thiệp của pháp luật dé hài hòa lợi ích của cả hai. Phá sản có một số đặc điểm nhất định: Thứ nhất, phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể, tại đó, tất cả các chủ nợ liên kết với nhau để giải quyết vấn đề công nợ của những con nợ, vốn là các chủ thê rơi vào trang thái phá sản, thất bại trong việc hoàn lại các khoản vay. Các chủ thé này có thể vẫn còn tài sản để thanh lý bù đắp cho các khoản vay nhưng cá biết có những chủ thé không còn tài sản gi để bù dap. Sở di nói phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể vì các chủ nợ của DN mất khả năng thanh toán, trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, không tự xé lẻ ra dé đòi nợ riêng.
Họ cùng tham gia vào một thiết chế chung dé tiền hành đòi no hay đảm bảo quyền lợi của mình, gọi là hội nghị chủ nợ. Ngoài ra, khi giải quyết vấn đề phá sản của DN, thì toàn bộ tài sản của DN đó được bán thanh lý, đưa vào quỹ chung và trả cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định mà luật phá sản quy định. Do vậy, trong bất cứ trường hợp nào, phá sản cũng là một thủ tục mang tính tập thể cao. Thứ hai, phá sản không chỉ nhắm đến mục đích đòi nợ mà còn chú trọng đến việc giúp đỡ để con nợ có thể phục hồi hoạt động kinh doanh.
Xu hướng chung của pháp luật phá sản trên thé giới là chú trọng giải quyết hai van dé cơ bản: (i) phục hồi hoạt động kinh doanh của DN mat khả năng thanh toán va (ii) thanh lý tài sản của DN phá sản dé bù đắp các khoản nợ. Phục hồi hoạt động kinh doanh cua DN mất khả năng thanh toán là thủ tục rất quan trọng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hết sức để giúp DN đó thoát khỏi tình trạng khó khăn, cải thiện được tình trạng nợ nần và từng bước thoát khỏi thảm cảnh phá sản. Thực tế thì bất kỳ nhà nước nào cũng quan tâm đến việc phục hồi hoạt động DN bởi suy cho cùng DN thoát khỏi tình trạng phá sản thì quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ mới không bị đe doa, môi trường đầu tư, kinh doanh của nhà nước vì thế mà cũng được cải thiện. Thứ ba, kết thúc thủ tục phá sản thường là sự cham dứt tổn tại của một chủ thể kinh doanh.
Phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt, theo đó các chủ nợ và người có quyền, nghĩa vụ liên quan tiến hành thủ tục tống tụng tư pháp dé yêu cầu tòa án 11 can thiệp nhằm thu hồi các khoản nợ của mình. Có những trường hợp DN phục hồi các hoạt động kinh doanh một cách thành công nhưng nhìn chung hậu quả pháp lý của phá sản là các DN liên quan bị chấm dứt tồn tại, toàn bộ tài sản của DN đó bị thanh lý để trả cho các chủ nợ. Trong trường hợp này, phá sản có ý nghĩa khá tiêu cực. Thứ tư, thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất tong hop và khá phức tạp.