CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CHONG LAN TRONG BẢO HỘ QUYEN SỞ HUU TRI TUE 1. Khai quat vé quyén sở hữu hữu tri tuệ va các cơ chế bao hộ quyền sé hữu trí tuệ 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Sở hữu trí tuệ (Intellectual property) hay tài sản trí tuệ là sản phẩm của quá trình sáng tạo của con người được thể hiện dưới hai dạng chủ yếu là quyền SHCN (quyền đối sáng chế, KDCN, nhãn hiệu.
Đây là loại tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kính tế - tinh thần vô cùng to lớn, góp phần quan trọng trong việc thúc đây sự phát triển của kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật của quốc gia và nền văn minh nhân loại. Thuật ngữ SHTT đã trải qua một quá trình phát triển dài lâu và có những bước phát triển mới cùng với nền kinh tế - xã hội của thế giới. Trong tất cả các công ước quốc tế hay những văn kiện quan trọng về SHTT không đưa ra khái niệm về mặt nội dung đối với thuật ngữ SHTT mà sử dụng phạm vi đối tượng điều chỉnh để đưa ra định nghĩa thuật ngữ này. Ở những văn bản pháp luật đầu tiên, chỉ có một số đối tượng quan trọng của quyền SHTT được điều chỉnh như sáng chế, nhãn hiệu và các tác phẩm nghệ thuật." Tuy nhiên, quyền SHTT không chỉ bó hẹp ở ba đối tượng như vậy.
Sự cần , thiết phải mở rộng khái niệm quyền SHTT do hai nguyên nhân chính (i) một số đối tượng đã tồn tại nhưng chưa được liệt kê một cách hệ thống: (ii) một số đối tượng là kết quả của qua trình phát triển khoa học- công nghệ và kinh tế xã hội. Vì thế thuật ngữ SHTT hiér nay điều chỉnh thêm một số đối tượng như: KDCN, tên thương mại (trong công ướ: Paris), quyền liên quan đến QTG (trong Công ước Rome về quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất băng ghi âm phi hình và tổ chức phat sóng 1961), quyền đối với giống cây trồng (1961), thiết kế bố trí và cơ sở dữ liệu. Công ước Paris cũng đề cập tớ: quyền chống cạnh tranh không lành mạnh như là một đối tượng của quyền SHCN nhưng liên quan đến vấn dé này vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Hiệp địm về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT (TRIPS) là một nỗ lực thành công của các quốc gia trên thế giới về van dé bảo hộ quyền SHTT.
Hiệp định TRIPS ra đời can đến những thay đổi căn bản trong lĩnh vực SHTT. Hiệp định nay thừa nhận và m rộng những chuẩn mực bảo hộ quyền SHTT trong Công ước Paris và * Luật quyên tác giddau tiên (Luật của nữ hoàng Anne 1710) quy định về quyển sao chép tác phẩm 8 Công ước Berne. Bên cạnh việc mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với chỉ dẫn địa lý (điều 22-24) và bí mật kinh doanh (điều 39), Hiệp định TRIPS còn nỗ lực loại bỏ các quy định hành chính. thủ tục bất lợi cho hoạt động SHTT quốc tế và lần đầu tiên đưa ra hình phạt đối với các quốc gia thành viên không bảo đảm tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà TRIPS đưa ra.
Nhu vậy, từ ba đối tượng dau tiên là sáng chế, nhãn hiệu va tác phẩm nghệ thuật, hệ thống SHTT hiện đại đã có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, bao quát hoạt động sáng tạo của nhân loại. Tai thời điểm hiện tại ba nhánh cơ bản của quyền SHTT là quyền SHCN, QTG và quyền đối với giống cây trồng là những đối tượng mang lại cho quyền SHTT vị trí đặc biệt trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia cũng như sự phát triển của nhân loại. “Tài sản trí tué” - là kết quả sáng tạo trí tuệ của con người, tồn tại dưới dang các tri thức, thông tin, về bản chất mang tính “vô hình”. Tuy nhiên, trên thực tế, những tài sản này có thể được “vật chất hóa”, thể hiện hay định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.
Ví dụ, tác phẩm âm nhạc có thé định hình trên văn bản hoặc băng đĩa. Do tính chất “vô hình” của tài sản trí tuệ nên bản thân người tạo ra nó cũng không thể chiếm giữ cho riêng mình. Trong khi các chủ thé sáng tạo và đầu tư phải mat rất nhiều thời gian, công sức, tiền của để tìm tòi, sáng tạo ra tài sản trí tuệ, thì loại tài sản này khi đã được công bố lại đễ dàng bị lan truyền, phổ biến, bị người khác chiếm đoạt, sử dụng, khai thác, trục lợi một cách bất hợp pháp mà không tốn chi phí gì hoặc chỉ một chỉ phí rất nhỏ. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo, làm tốn hại , nghiêm trọng đến lợi ích của những người đã bỏ thời gian, công sức, tài chính dé tạo ra kết quả sáng tạo.
Do đó, để khuyến khích sáng tạo, thúc đây đổi mới, cải tiến công nghệ, bảo vệ quyên lợi hợp pháp cho chủ thé sáng tạo và đầu tư, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, cần có cơ chế pháp lý để ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu đối với các kết quả sáng tạo trí tuệ. Khái niệm “quyền SHTT” ra đời là sự ghi nhận và bao đảm bang pháp luật của Nhà nước về quyên sở hữu của các tô chức, cá nhân đối với các kết quả sáng tạo trí tuệ do họ sáng tạo hoặc đầu tư. Nhà nước trao cho chủ thể của quyền SHTT một độc quyền trong một khoảng thời gian và phạm vi nhất định, nhằm bảo đảm cho người : năm giữ quyền có thé thu được các lợi ích từ việc khai thác, sử dụng quyền SHTT, đồng thời có quyền ngăn chặn hành vi sử dụng trái phép tài san trí tuệ của người khác. Trong nhiều tài liệu cũng như trên thực tế, hai thuật ngữ SHTT và “quyền SHTT” có thé được sử dụng với nghĩa như nhau.
Theo Tổ chức SHTT thé giới (WIPO) — Tổ chức quản ly SHTT quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu, “SHTT được hiểu theo nghĩa rộng là các quyên hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công 9 nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật.” SHLT (Intellectual property) hay quyền SHTT có thể hiểu theo hai phương diện: (i) pháp luật SHTT và (ii) quyền đối với đối tượng SHTT. Theo nghĩa khách quan, Quyền SHTT là tông hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, khai thác, sử dụng, bảo vệ các đối tượng SHTT. Theo nghĩa chủ quan, quyền SHTT là quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân đối với những tai sản trí tuệ do con người sáng tạo. Đó là độc quyền được Nhà nước trao cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức để khai thác, sử dụng, định đoạt những sản phẩm của hoạt động sáng tạo trí tuệ.
Khoản | Điều 4 Luật SHTT Việt Nam định nghĩa: “Quyên SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tai sản trí tuệ, bao gôm OTG và quyên liên quan đến OTG, quyên SHCN và quyên doi với giống cay trong”. Dae điểm của quyền sở hữu trí tuệ Là một dạng đặc biệt của quyền sở hữu. quyền SHTT có một số đặc trưng riêng biệt so với quyền sở hữu tài sản thông thường Vé doi tượng: Đối tượng của quyền SHTT là kết quả sang tạo trí tuệ của con người, mang tính chất vô hình. Tài sản trí tuệ được tạo ra dựa trên hoạt động sáng tạo và đổi mới, nên luôn có tính sáng tạo, mang lại những lợi ích cho người nắm giữ.
Về phạm vi quyên: Quyền SHTT bao gồm cả các quyền nhân thân và quyên tài sản. Mặc dù quyên sở hữu nói chung mang ban chất là quyền tài sản, nhưng đối với. quyền SHTT, bên cạnh việc bảo vệ các quyền tài sản của chủ sở hữu, pháp luật cũng ghi nhận cả các quyền nhân thân cho chủ thé sáng tạo. Về nội dung quyên: Do bản chất déi trong SHTT là tài sản vô hình, nên việc nam giữ, quản lý nó không thể thực hiện được như các tài sản thông thường, quyền chiếm hữu tài sẵn trí tuệ không có ý nghĩa khi đối tượng SHTT đã được công bố hay sử dụng trên thực tế.
Vì vậy, quyền SHTT về bản chất chỉ tập trung vào độc quyền sử dụng đối tượng SHTT (bao gồm cả quyền cho phép hoặc quyền ngăn cắm người khác sử dụng đối tượng SHTT; quyên định đoạt đối tượng SHTT). Về căn cứ xác lập quyên sở hữu: Quyền SHTT chỉ được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Quyền QHIT được xác lập dựa trên hai nhóm căn cứ chủ yêu: (i) Nhóm quyên phat sinh tự động cùng với sự ra đời của tài sản trí tuệ mà không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thâm quyền. Ví dụ: ” WIPO, Introduction to Intellectual Property Theory and Practice, Kluwer Law International, London — The Hague, Boston, trang 3.
10 QTG, quyền liên quan. quyền SHCN đối với tên thương mại, quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nỏi tiếng." (ii) Nhóm quyền phát sinh trên cơ sở đăng ký. Ví dụ, quyền SHCN đối với sáng chế, KDCN. thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thâm quyền theo thủ tục đăng ky.’ Về giới han quyén: Khác với quyền sở hữu tai sản thông thường, quyền SHTT là loại quyên được bảo hộ có tính “giới hạn”.
Bảo hộ quyền SHTT có mục đích khuyến khích hoạt động sáng tạo bang cach dành cho chủ sở hữu độc quyền sử dụng, khai thác đối trong SHTT trong một khoảng thời gian nhất định và đổi lại, chủ sở hữu phải đưa tài sản trí tuệ của mình phục vụ lợi ích chung của xã hội. Độc quyền dù dưới bất kỳ hình thức nào nếu bị lạm dụng có thé làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên thứ ba. Vi vậy, mục đích của pháp luật SHTT là tạo động lực thúc đây phát triển văn hóa, khoa học kỹ thuật nhưng quyền SHTT không được cản trở hay gây ảnh hưởng đến lợi ích công cộng và sự phát triển của xã hội. Nguyên tắc cân bằng lợi ích là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong các quy định về bảo hộ quyền SHTT nhằm dung hòa lợi ích của chủ sở hữu đối tượng SHTT với lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.