đặt vấn đề, quan điểm về đầu tưnước ngoài của nước chủ nhà. Do tính chất của nó, dòng đầu tư nước ngoài trực tiếp chỉ vận động đến nơi nào lợi nhuận cao, tức là nơi nó phát huy triệt để nhất sức mạnh của mình theo thuyêt lợi thế so sánh. Kinh nghiệm các nước đã chỉ rõ mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế, tuỳ thuộc vào nội lực của đất nước, chỉ nên đặt ra một vài mục tiêu chủ đạo mà nếu thực hiện được thì sẽ là đòn bẩy thúc đẩy đi lên. Mục tiêu chủ đạo ( hay mục tiêu chủ yếu ) khác nhau trong từng giai đoạn cũng chính là biểu hiện của lợi thế và việc sử dụng lọi thế của nước chủ nhà.
Như vậy, việc đòi hỏi đầu tư nước ngoài trực tiếp trong cùng một thời điểm phải đáp ứng tất cả các mục tiêu chắc chắn sẽ không bao giờ đạt được. Cách đặt ván đề một cách khách quan tòan diện và có cơ sở thực tiễn chính là ở chỗ biết xác định trọng tâmcủa c ô n ơ tác thu hút vốn đầu tưnước ngoài trực tiếp trong từng thòi điểmđể từđó có biện pháp hữu hiệu về sử dụng nguồn vốn này cũng nhưnhững nhận định chính xác về kết quả nó mang lại cho đất nước. Hiệu quả kinh tê của FDI và các tiêu chí đánh giá. Đứng trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, khái niệm hiệu quả kinh tế phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, khác với hiệu quả kinh tế của từng đơn vị hay cúa phạm vi ngành, địa phương.
thể hiện lợi ích cục bộ. Hiệu qủa kinh tế trên 11 phạm VI quoc gia khong phai gian đon là tông sô hiêu quả của các bô phân các cơ sở sản xuất kinh doanh, mặc dù nó không thoát ly hiệu quả có tính chất bộ phận. Xét trên phạm vi tổng thể như vậy, hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải tính toán các quan hệ liên ngành rộng lớn và phức tạp, xuất phát trước hết từ các quan hệ kinh tế-kỹ thuật của quá trình phát triển. Sự phát triển của đơn vị này, bộ phận này luôn có quan hệ với sự phát triển của đơn vị khác, ngành khác, do đó có tác động đến hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sự phát triển của nền kinh tế không chỉ được đề cập về mặt kinh tế, mà còn được hết sức quan tâm về mặt xã hội Hai mặt này có liên quan chặt chẽ với nhau. Hiệu quả kinh tế được nâng cao sẽ tạo điều kiện thuận lọi cho giải quýêt các vấn đề xã hội. Phát triển kinh tế có hiệu quả làm tăng khả năng tích luỹ tiêu dùng, hình thành điều kiện kinh tế cho việc nânơ cao trình độ văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ môi trường sinh thái tạo điều kiện giải quyết hàng loạt những vấn đề xã hội khác nẩy sinh. Mặc dù có liên quan chặt chẽ với nhau và tác động lẫn nhau, song kinh tế và xã hội là nhữnơ vấn đề khác nhau.
VI vậy, khi nhấn mạnh hiệu quả kinh tế phải đồng thời nhấn mạnh hiệu quả xã hội. Gia tăng thu nhập quốc dân luôn là một mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia, do đó đánh giá đóng góp của FDI vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của phân tích kinh tế. Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, mỗi quốc gia trong tòng giai đoạn phát triển bao giờ cũng có những mục tiêu phát triển khác, chẳng hạn gia tăng giá trị đầu tư công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm, cải thiện cán cân thanh toán, ổn định nền kinh tế hay các mục tiêu cụ thể phát triển một ngành kinh tế hay một địa phươnơ nào đó. Tất cả những tác động của dự án tói mục tiêu phát triển khác nhau đều phải đươc xác đinh và đánh giá đúng đắn Trong hoàn cảnh kinh tê xã hội của Hà nội hiện nay và chiến lược phát triển kinh tế xã hội do Đảng và chính quyền Hà nội đặt ra, đồng thời phù hợp với chủ 12 ch ư ơ n g c ủ a c ả nướ c, m ộ t số tiê u c h í cơ b ản dưới đây đ a n g được sử d ụ n g để đ án h g iá h iệu q u ả h o ạ t đ ộ n g FD I.
•Đóng góp trong sựtăng trưởng kinh tế chung. •Đóng góp vào tài sản xã hội. •Giải quyết việc làm. •Đóng góp ngân sách.
•Giải quyết công nghệ. Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn FDI. Một s ố nhân tô ảnh hưởng trực tiếp. Các chính sách, quy định liên quan trực tiếp tói hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất tới hiệu quả của đầu tưnước ngoài.
Ngay từ khi bắt đầu làmthủ tục đầu tư, các quy định về thẩmđịnh, xin thuê hay cấp giấy phép sử dụng đất., các quy định, chính sách đã làmcho các nhà đầu tưcó thể phấn khởi hay chán nản, thậmchí bỏ cuộc tuỳ theo mức độ phức tạp hay thông thoáng. Khi đã triển khai dự án thì các quy định về thuế, về xuất nhập khẩu, về các ưu đãi cũng ảnh hưởng không nhỏ tới nhà đầu tư mặc dù trước khi đầu tưhọ cũng đã nghiên cứu kỹ. Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước như chiến lược đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách tài chính, chính sách nội địa hoá. là tiền đề cho đầu tư nước ngoài trực tiếp hoạt động có hiệu quả.
Chính sách vĩ mô chính xác trong mỗi giai đoạn phát triển sẽ là nguồn động lực mạnh nhất để FDI hoạt động có hiệu quả, điều đó có nghĩa là chính sách vĩ mô của Nhà nước phải đáp ứng hài hoà giữa chiến lược của Nhà nước, lợi ích của toàn xã hội và lợi ích của các nhà đầu tư. Mỗi thay đổi nhỏ của chính sách vĩ mô cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư, nó có thế thúc đẩy một số ngành kinh tế phát triển nhanh chóng hay lụn bại bởi các nhà đầu tư, thậm chí nó có thể suy sụp cả nền kinh tế. Điều đó đã được chứng 13 minh bởi cuộc khoảng hoảng nền kinh tế Đông Namá mà bắt đầu là sựđiều tiết vĩ mô sai lầmcủa Thailand. Nguồn vốn đối ứng của nước chủ nhà.
Đây là yếu tố khẳng định quyền lợi của doanh nghiệp đối tác cũng như quyền lợi của nước nhận đầu tư. Trong chiến lược chung, hầu hết các nước đều hạn chế đầu tưnước ngoài vào những ngành then chốt như viễn thông, hàng không .Điều đó đòi hỏi nước chủ nhà phải có lượnơ vốn tương xứng để đầu tư vào các lĩnh vực đó nhằm trách rơi vào thế bị động bị chèn ép cả đầu ra lẫn đầu vào. Đối với từng doanh nghiệp nếu không đủ vốn đối ứng cho dự án thì sẽ mất quyền quyết định trong liên doanh, chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình kinh doanh, dẫn tói làm giảm hiệu quả của vốn đầu tưcủa mình ( chính là giảmhiệu quả vốn FDI, nếu nhìn từgóc độ lợi ích chung của Nhà nước ) Điều kiện cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. Một địa bàn có hệ thống ơiao thông, liên lạc, hệ thống cấp thoát nước.
đáp ứng tốt cho hoạt động đầu tư nước ngoài thì đó là điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển hữu hiệu hơn nhiều. Các nhà đầu tư sẽ chỉ cần tập trung đầu tư trang thiết bị trực tiếp phục vụ cho sản xuất thời gian triển khai các dự án được rút ngắn nhiều. Trong quá trình hoạt động thời gian cho các khâu vận chuyển, thông tin. cũng sẽ tiết kiệm nhiều.
Điều đó làm tăng hiệu quả đầu tưkhông nhỏ. Trình độ quản lý và lực lượng lao động của nước chủ nhà. Thực tế đã chứng minh chi phí cho việc đào tạo lao động của các dự án đã chiếm một nguồn kinh phí, quỹ thòi gian không nhỏ, điều này làm ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ và hiệu quả của các dự án. Đặc biệt trình độ các cán bộ quản nhà nước là vấn đề bức xúc đối với các nước đang phát triển, điều này có thể dễ dàng nhận thấy trong tất cảc các khâu của quá trình quản lý hoạt đông FDI, mỗi sai lầmcủa các nhà quản lý có thể gây tác hại to lớn về thời gian, tài chính cho nước chủ nhà và các nhà đầu tư.
Một s ô nhân tô ảnh hưởng gián tiếp. Hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài; đầu tư gián tiếp của nước ngoài bổ xung một phần không nhỏ cho toàn bộ vốn đầu tư, nó có tác dụng thúc đẩy đầu tư FDI hoạt động có hiệu quả horn, các dự án hoạt động khồng hiệu quả thì đầu tư gián tiếp sẽ chuyển hướng đầu tư sang dự án khác hay lĩnh vực khác. Đặc biệt là các nguồn vốn ODA, NGO thường được đầu tư cho xây dựng cơ bản và dịch vụ xã hội, nếu được sử dụng hợp lý thì sẽ là tiền đề cho FDI hoạt động hiệu quả hơn Công tác vận động đầu tư ngoài có tác dụng làm tăng nguồn vốn đầu tư, còn gián tiếp tạo ra các động cơ cạnh tranh cho các nhà đầu tư đang và đã triển khai dự án; khi mà trong một ngành hay một lĩnh vực kinh tế nào đó có nhiều nhà đầu tư quan tâm, đang và sẽ đầu tư thì khi đó các nhà đầu tư phải có phương án tối ưu nhất đồng thời nước chủ nhà cũng có lợi nhất trong quá trĩnh đàm phán và quản lý khai thác dự án. Tình hình kinh tế trong khu vực và thế giới tác động đến cả các nhà đầu tư đang tìm dự án và các dự án đã hay đang triển khai.
Khi có biến động kinh tế; ngay lập tức các nguồn đầu vào, đầu ra của các dự án sẽ có thay đổi, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của FDI; các chính sách, quy định của nước chủ nhà phải có thay đổi để phù hợp với sự thay đổi của khu vực, vì vậy các nhà đầu tư phải có thời gian tìm hiểu và thích nghi vói sự thay đổi này; các chủ đầu tư sẽ bị ảnh hưởng ngay tại nước nhà, vì vậy họ sẽ phải có hướng đầu tư mới, dẫn đến thay đổi chiến lược đầu tư ở nước ngoài của họ. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝVỐN FDI. Kinh nghiệm của một số nước Châu á về thu hút và sử dụng vốn FDI 1. S ử d ụ n g đẩu tư trực tiếp.