mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1:Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và tầm quan trọng của thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 2:Thực trạng công tác thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và biểu hiện thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoàicủa Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3:Quan điểm và giải pháp tăng cƣờng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài của Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh 5 CHƢƠNG 1 ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ĐỐI VỚI BAN QUẢN LÝ KHU CÔNG NGHỆ CAO 1.1Đầu tƣ nƣớc ngoài và hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài 1.1Khái niệm đầu tư nước ngoài Đầu tƣ nƣớc ngoài có thể hiểu một cách khái quát đó là các hình thức mà nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp bỏ vốn thông qua các loại hình đầu tƣ khác nhau đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh ở nƣớc khác nhằm thu lợi nhuận thông qua việc tận dụng các lợi thế sẵn có của các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, cụ thể nhƣ: nhân công, nguyên liệu, thị trƣờng tiêu thụ, … hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nƣớc sở tại và thông lệ quốc tế. Theo Luật Đầu tƣ số 59/2005/QH11 2005 thì: Đầu tƣ nƣớc ngoài là việc các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tƣ.
Tuy nhiên, theo Luật Đầu tƣ số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014, sử dụng khái niệm “đầu tƣ kinh doanh” để thay thế 2 khái niệm trƣớc đây là “Đầu tƣ trực tiếp, đầu tƣ gián tiếp”, theo đó đầu tƣ kinh doanh là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tƣ góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tƣ theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tƣ.2 Các hình thức đầu tư nước ngoài Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài rất quan trọng đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, … Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có hai dạng chính:đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ gián tiếp: - Đầu tƣ trực tiếp(FDI): là loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó ngƣời chủ sở hữu đồng thời là ngƣời trực tiếp quản lý và điều hành đối tƣợng đầu tƣ. Nói cách khác đầu tƣ trực tiếp là loại hình di chuyển vốn quốc tế có đặc trƣng quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn chặt với nhau. FDI có thể có một số hình thức: liên doanh, buôn bán đối ứng, cấp giấy phép công nghệ quản lý; 100% sở hữu xí nghiệp của nƣớc ngoài; và cùng sản 6 xuất. Hình thức FDI nào của nƣớc ngoài vào nƣớc chủ nhà là tốt nhất phụ thuộc vào đặc điểm của nền công nghiệp, trình độ phát triển của nƣớc liên quan và bên đối tác.
- Đầu tƣ gián tiếp: là loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia trong đó ngƣời sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành đối tƣợng đầu tƣ. Có nghĩa là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau. Chủ sở hữu vốn không tham gia quản lý và điều hành đối tƣợng đầu tƣ đƣợc sử dụng vốn của họ, ngƣợc lại ngƣời quản lý điều hành không có quyền sở hữu đối tƣợng đầu tƣ. Đầu tƣ gián tiếp có đặc điểm nổi bật là chủ sở hữu vốn không chịu trách nhiệm về kết quả của đối tƣợng đầu tƣ, họ chỉ hƣởng lãi suất theo tỷ lệ cho trƣớc của số vốn mà họ đầu tƣ.
* Ngoài ra, còn có một hình thức phổ biến khác, đó là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (Official develop-ment assistance: ODA) đây là hình thức đầu tƣ thông qua các hiệp định song phƣơng giữa hai chính phủ hoặc cho vay vốn với những điều kiện ƣu đãi đặc biệt về thời hạn vay, lãi suất vay …. Nguồn vốn ODA nhằm giúp các quốc gia chậm hoặc đang phát triển đẩy mạnh tốc độ tăng trƣởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Nguồn vốn ODA còn đƣợc thực hiện bằng các hiệp định viện trợ đa phƣơng của các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ nhƣ: UNDP, IMF, WB, … 1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và những tác động của nó Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có vị trí rất quan trọng góp phần tăng trƣởng và phát triển kinh tế không chỉ riêng đối với các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ mà còn đối với các quốc gia đi đầu tƣ. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, hợp tác, phân công quốc tế, hội nhập và cùng phát triển là vấn đề mang tính quy luật.
Lợi ích của việc đi đầu tƣ và tiếp nhận đầu tƣ đều có ý nghĩa nhƣ nhau. Tuy nhiên lợi ích sẽ không thể chia đều, nó chỉ có thể đƣợc tận dụng một khi đôi bên đều phát huy tốt nhất những lợi thế, hạn chế tối đa những mặt trái và khiếm khuyết. Từ đó, để hiểu rõ vai trò và vị trí của đầu tƣ nƣớc ngoài nên xem xét tác dụng của nó từ cả hai phía: tác động đối với các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ và với các nƣớc đầu tƣ (xuất khẩu vốn) 7 1.1 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư a) Ƣu điểm: - Tăng quy mô tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), mở rộng cơ cấu kinh tế trong nƣớc, tạo đà cho sự phát triển. - Làm tăng lƣợng cung ứng vốn và khả năng tiếp cận công nghệ, kỹ năng quản trị và thị trƣờng.
- Huy động đƣợc nguồn vốn ở mức độ tối đa, vì đầu tƣ trực tiếp chỉ quy định mức độ đóng góp vốn tối thiểu. - Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI )tạo điều kiện cho quốc gia tiếp nhận đầu tƣ khai thác tốt nhất những tiềm năng về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lao động. - FDI tạo điều kiện cho nƣớc sở tại sử dụng có hiệu quả phần vốn đóng góp của mình, nâng cao tốc độ tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân. b) Hạn chế: - Xuất phát từ mục đích của đầu tƣ là lãi suất của vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh nên chủ đầu tƣ chỉ tập trung vào các ngành và vùng có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng đạt đƣợc mục đích trên.
Điều đó thƣờng dẫn đến hậu quả là cơ cấu ngành và vùng lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận đầu tƣ phát triển không đồng đều, mất cân đối. Ví dụ: tại Việt Nam vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thƣờng tập trung vào những ngành đem lại lợi nhuận cao nhƣ công nghiệp (công nghiệp khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến, …); dịch vụ tại những thành phố lớn, đông dân cƣ và hiện đại nhƣ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vũng Tàu,… - Nguồn tài nguyên bị bóc lột (khai thác) quá mức dẫn đến kiệt quệ, môi trƣờng sinh thái bị ảnh hƣởng. - Nếu quốc gia tiếp nhận đầu tƣ không kiểm tra, giám sát chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng là nơi tiếp nhận công nghệ, máy móc thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lƣợng sản phẩm thấp, giá thành cao; là nguyên nhân 8 dẫn đến khả năng cạnh tranh không cao ngay tại sân nhà và xuất khẩu mà quốc gia đi đầu tƣ đang cần thay thế.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với chính các nước đầu tư (xuất khẩu vốn) a) Ƣu điểm: - Tăng quy mô GNP. - Do đặc điểm của đầu tƣ là quyền sở hữu và quyền điều hành, quản lý vốn gắn liền với nhau nên vốn đƣợc sử dụng hợp lý, đạt hiệu quả cao, giảm những bất đồng; tranh chấp trong điều hành quản lý vốn.
- Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa cơ sở sản xuất tới gần vùng nguyên, nhiên liệu, lao động, khu vực tiêu thụ sản phẩm và sử dụng đƣợc những lợi thế về giá cả yếu tố sản xuất nên có thể giảm đƣợc chi phí sản xuất sản phẩm, nâng cao đƣợc lợi nhuận của vốn so với trong nƣớc. - Tránh đƣợc hàng rào bảo hộ mậu dịch của nƣớc sở tại (quốc gia tiếp nhận đầu tƣ)vì đầu tƣ trực tiếp tạo ra các đối tƣợng đầu tƣ ngay “trong lòng” các quốc gia tiếp nhận đầu tƣ. - Tận dụng chính sách khuyến khích đầu tƣ nƣớc ngoài của các quốc gia tiếp nhận đầu tƣ dẫn đến hiệu quả vốn đầu tƣ cao. b) Hạn chế: Bên cạnh những ƣu điểm kể trên, việc xuất khẩu tƣ bản cũng có những rủi ro nhất định: - Rủi ro đầu tƣ cao nếu môi trƣờng kinh tế, chính trị của quốc gia tiếp nhận đầu tƣ không ổn định.
- Mặt khác các nƣớc xuất khẩu vốn cũng đang phải đối phó với những hạn chế về năng lực quản lý, hệ thống chính sách và pháp luật chƣa cụ thể, thiếu đồng bộ, đội ngũ công nhân trình độ thấp, quy hoạch dàn trải thiếu khoa học của nƣớc sở tại.2Các yếu tố cơ bản ảnh hƣởng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.1 Tình hình chính trị xã hội Đối với nhân tố chính trị, đây là vấn đề đƣợc quan tâm đầu tiên của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khi có ý định đầu tƣ vào một nƣớc mà đối với họ còn nhiều khác biệt. Khi đó một đất nƣớc với sự ổn định và nhất quán về chính trị cũng nhƣ an ninh và trật tự xã hội đƣợc đảm bảo sẽ bƣớc đầu gây cho đƣợc tâm lý yên tâm tìm kiếm cơ hội làm ăn cũng nhƣ có thể định cƣ lâu dài. Môi trƣờng chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết để kéo theo sự ổn định của các nhân tố khác nhƣ kinh tế, xã hội. Đó cũng chính là lý do tại sao các nhà đầu tƣ khi tiến hành đầu tƣ vào một nƣớc lại coi trọng yếu tố chính trị đến vậy.
Tình hình chính trị xã hội ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của Chính phủ đối với các nhà đầu tƣ về sở hữu vốn đầu tƣ, các chính sách ƣu tiên đầu tƣ và định hƣớng phát triển (cơ cấu đầu tƣ) của nƣớc nhận đầu tƣ.2 Chính sách kinh tế Đối với nhân tố kinh tế, bất cứ quốc gia nào dù giàu hay nghèo, phát triển hoặc đang phát triển đều cần nguồn vốn nƣớc ngoài để phát triển kinh tế trong nƣớc tùy theo các mức độ khác nhau.