CHƯƠNG I: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.1 Một số lý luận chung về phát triển kinh tế nông nghiệp 1.1 Khái niệm và đặc điểm về kinh tế nông nghiệp 1.1 Khái niệm và các bộ phận cấu thành kinh tế nông nghiệp *Khái niệm nông nghiệp: - Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà). Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. - Theo Từ điển Tiếng Việt: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi. Khái niệm này chỉ mới nói đến nông nghiệp theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm hai ngành trồng trọt (cung cấp lương thực) và chăn nuôi (cung cấp thực phẩm).
- Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lào, định nghĩa nông nghiệp là: Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, một trong những bộ phận chủ yếu của sản xuất vật chất, sản xuất thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp. Trong nông nghiệp việc sản xuất sản phẩm không những gắn liền với quá trình kinh tế quốc tế, mà cũng gắn liền với quá trình tự nhiên của tái sản xuất. Muốn kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn điều quan trọng là hiểu biết và khéo sử dụng các quy luật kinh tế của sự phát triển động vật và thực vật. Nông nghiệp bao gồm hai ngành: ngành trồng trọt và chăn nuôi.
Ngành trồng trọt bao gồm sản xuất ngũ cốc, cây công nghiệp, khoai tây, trồng rau, làm vườn, nghề trồng cỏ. Ngành chăn nuôi bao gồm việc nuôi súc vật lớn có sừng, cừu, lợn, gia cầm. 10 Trong nông nghiệp, ruộng đất là một trong những tư liệu sản xuất chủ yếu. Đặc điểm của ruộng đất với tư cách tư liệu sản xuất là: nếu sử dụng ruộng đất hợp lý thì độ màu mỡ của đất không bị cạn kiệt, mà tăng lên.
Đặc trưng cho nông nghiệp là tính chất thời vụ của những công việc quan trọng nhất về sản xuất, sản phẩm, là sự tách rời khá lớn giữa thời gian sản xuất và thời kỳ làm việc do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp tạo nên. + Theo nghĩa rộng. Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất bao gồm cả nông, lâm và ngư nghiệp. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển.
+ Theo nghĩa hẹp. Nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực thực phẩm cho con người và xã hội. Trong bài luận văn này, khái niệm nông nghiệp được sử dụng theo khái niệm nông nghiệp của Lào. * Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp: -Khái niệm kinh tế nông nghiệp: Kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp.
Nói cách khác, hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Kinh tế nông nghiệp còn là một bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế của sản xuất nông nghiệp: Mối quan hệ giữa người với người, tác động vào sự vận dụng cụ thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp là tổng hợp các ngành sản xuất gắn liền với các quá trình sinh học, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực thực phẩm cho xã hội.
11 Kinh tế nông nghiệp mang những nét đặc thù của một ngành mà đối tượng sản xuất là những cơ thể sống. Nó gắn bó với các ngành kinh tế khác trên địa bàn nông thôn. Đồng thời nó chịu sự chi phối chung của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nông nghiệp ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.
Cùng với sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội hình thành các ngành sản xuất khác nhau và cho phép tách sản xuất của các nhóm sản phẩm thành những kinh tế sinh vật cụ thể, tương đối độc lập với nhau nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau. Vì vậy, có thể hiểu kinh tế nông nghiệp theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp: Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nông, lâm và ngư nghiệp, theo nghĩa hẹp nó là một ngành trực tiếp trồng trọt lương thực, chăn nuôi. Ở luận văn này nông nghiệp được nghiên cứu và tiếp cận theo nghĩa rộng. - Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp: + Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt.
Đặc biệt trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau, lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau. Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.
+ Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp. Đất đai quyết định đến sự phát triển của nông nghiệp. Đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, với các loại tư liệu sản xuất khác trong quá trình xây dựng chúng bị hao mòn, nhưng đối với đất nếu biết sử dụng hợp lý thì đất có thể ngày càng tốt hơn.
Đất đai thể hiện: Vị trí cố định; diện tích không gian bị giới hạn; vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động, vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm lao 12 động của con người, vừa là bộ phận của lãnh thổ quốc gia mà Nhà nước là người đại diện quản lý, vừa là kết quả khai phá, cải tạo, bảo vệ của nhiều thế hệ dân tộc, cộng đồng làng xã, dòng họ, gia đình; đất đai, nếu được sử dụng và sử dụng hợp lý thì độ màu mỡ sẽ không ngừng tăng lên, sản phẩm mang lại cho người lao động càng nhiều, thu nhập sẽ càng cao. Đất gắn liền với vị trí địa lý, địa hình. Cho nên mỗi vùng đều có một diện tích đất cố định. Đất gắn chặt với các điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, chịu ảnh hưởng bởi khí hậu, thời tiết của vùng đó.
Tùy vào điệu kiện từng vùng mà có phương thức sản xuất phù hợp. Tính cố định của đất đai gắn liền với điều kiện kinh tế của vùng. Trong nông nghiệp điều đó là điều kiện để quyết định nền sản xuất sản phẩm nào thì thu được lợi nhuận cao. Đối với công nghiệp thì đó là lực lượng lao động của vùng, điều kiện vận chuyển vật tư hàng hóa, thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Đối với xây dựng thì đó là vị trí công trình nhà xưởng, hạ tầng cơ sở. +Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi. Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng.
Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương. Trong quá trình sản xuất của nông nghiệp, cây trồng, vật nuôi chỉ phát triển tốt nhất khi có điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất, nước, phân bón, môi trường sinh thái phù hợp.
Đây cũng là đặc điểm tạo khả năng sử dụng các giải pháp sinh học trong quá trình phát triển ngành kinh tế nông nghiệp của đất nước. 13 + Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt tiqt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó.
Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau.