Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý báu của mỗi quốc gia, là tài nguyên có thể tái tạo được. Rừng đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của toàn bộ con người cũng như sinh vật trên trái đất, rừng cung cấp oxi, duy trì sự sống và là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái. Rừng cung cấp nhiều lâm đặc sản quý hiếm, duy trì sự phát triển của nguồn gen động thực vật có giá trị kinh tế cao, bảo tồn đa dạng sinh học. Rừng còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế như: cung cấp nguồn gỗ, tre, đặc sản rừng, các loại động, thực vật có giá trị trong nước và xuất khẩu, ngoài ra nó còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng.
Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng. Trám đen (Canarium tramdenum Dai & Yakovl) là cây gỗ lớn bản địa, có chiều cao từ 20-30m, đường kính ngang ngực đạt 50-70cm, thân tròn thẳng, tán rộng và lá xanh quanh năm. Trám đen được trồng và phân bố ở vùng Đông Nam châu Á gồm phía nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây) Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan.
Ở Việt Nam Trám đen phân bố khá rộng rãi từ Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Tây, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Đắc Lắc, Khánh Hoà. Ngoài tác dụng phòng hộ, cung cấp gỗ củi, các bộ phận của cây trám đen như quả, 2 cành, lá, vỏ và rễ đều có giá trị như một nguồn dược liệu. Trám đen là cây bản địa đa mục đích được trồng trong nhiều chương trình và dự án trồng rừng khác nhau ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và miền Trung. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất các mô hình trồng tập trung chưa thành công do nhiều nguyên nhân.
Ở xã Hà Châu, huyện Phú Bình, Trám đen là một đặc sản nổi tiếng mang lại hiệu quả gấp nhiều lần so với cây lúa và các cây ăn quả khác. Cách đây nhiều năm về trước, cây Trám đã có mặt trên đất đồi, đất bãi của xã Hà Châu. Đó là những cây Trám bản địa mọc rải rác ở trong vườn đồi của các hộ gia đình với chủng loại phong phú đặc biệt là cây Trám đen. Trám mọc thành khu xen với các loại cây tự nhiên khác trên địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú Bình.
Cây Trám có nhiều công dụng có thể dùng làm nến, hương, dầu thơm, keo dán, dược liệu, quả chứa nhiều canxi, vitamin C, sắt và các chất hữu cơ có tác dụng bổ tỳ vị, phòng ngừa tả, cảm cúm [6]. Ngoài quả Trám làm thực phẩm, người dân còn khai thác nhựa để bán cho các cơ sở làm hương, nến, chế keo dán, sơn, dầu thơm. Ngoài ra tiềm năng để phát triển cây Trám trên xã Hà Châu còn rất lớn, nhu cầu của nhiều hộ trong xã còn mong muốn được sự quan tâm đầu tư, khoa học để phát triển cây Trám. Xã Hà Châu đã bước đầu xây dựng được mô hình trồng Trám ghép từ những cây Trám ưu việt tại xã nhằm tăng lợi ích kinh tế, cải tạo vườn tạp.
Sau một năm tiến hành ghép trồng, chưa có đánh giá khả năng sinh trưởng của cây trồng. Xuất phát từ thực tế và nhu cầu trên em thực hiện đề tài “Đánh giá sinh trưởng mô hình Trám đen ghép tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích Đánh giá được khả năng sinh trưởng của mô hình Trám đen ghép tại 2 mô hình xã Hà Châu, huyện Phú Bình từ đó làm cơ sở khoa học đề suất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp. Mục tiêu - Xác định tỷ lệ sống cây ghép sau trồng.
- Đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển của các mầm ghép Trám đen. - Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa học tập: Qua thực hiện chuyên đề sẽ giúp bản thân làm quen với thực tiễn, có điều kiện so sánh, đối chứng và kiểm nghiệm giữa lý thuyết và thực tiễn, củng cố kiến thức đã học được từ nhà trường và có điều kiện tích lũy thêm kiến thức thực tế. Ý nghĩa trong khoa học: Thấy rõ sự phát triển và sinh trưởng của cây Trám đen, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Sau khi nghiên cứu sẽ đóng góp một phần nhất định trong việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây Trám đen. Đánh giá thực tế tình hình sinh trưởng của cây Trám đen làm tiền đề cho việc đưa ra những biện pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể, hợp lý để làm tài liệu cũng như truyền đạt thông tin đến cho người dân. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan cây Trám đen 2.
Tổng quan đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là cây Trám đen ghép thuộc chi Trám (Canarium), họ Trám (Bureraceae), bộ Cam (Rutales). Trám đen được giám định tên khoa học Pimela nigra Lour từ năm 1790 (Loureiro). Năm 1985, hai nhà thực vật Trần Định Đại và Yakolev đã giám định lại tên hợp pháp của loài trám đen là C. Cây Trám còn có một số tên gọi khác như: Ở Thái Lan gọi là Sam chim và có tên thương mại là Ô liu Trung Quốc.
Ở Việt Nam đa số các tỉnh gọi là cây Trám trắng, Trám đen, ở Nam Bộ gọi Trám là Càna, người Khơme gọi Trám là Khana. Tiếng Tày là Bùi, tiếng Nùng là Co mác bây [4]. Đặc điểm phân bố Cây Trám mọc tự nhiên trên thế giới chủ yếu ở Châu Á ở các nước như: Việt Nam, Ấn Độ, Lào, Trung Quốc (Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông), Lào, Campuchia, Thái Lan…. Cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam.
Thường gặp trong các rừng nhiệt đới thường xanh, ở độ cao từ khoảng 50 đến 800 m, tập trung nhiều ở độ cao 100 - 400 m trên mặt biển. Cây thường gặp nhiều ở sườn hoặc chân núi đất, rất ít khi gặp trên đỉnh núi, thường cùng mọc với lim, trám trắng, chẹo tía, gội nếp, gội trắng.Các ưu hợp Lim + Trám trắng + Trám đen khá phổ biến trong các kiểu rừng kín thường xanh ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ trước kia, nhưng hiện nay thường chỉ còn lại dấu vết ở các vùng núi và trung du của nước ta [4]. Đặc điểm hình thái Cây gỗ lớn, cao 25-30 m, đường kính 60-90 cm hay hơn. Thân thẳng, phân cành cao khi mọc trong rừng, nhưng nếu mọc ngoài sáng, cây phân cành sớm, tán toả rất rộng.
Vỏ ngoài màu nâu nhạt, thịt hơi hồng, có nhựa mủ đen với mùi thơm rất đặc biệt. Lá kép lông chim 1 lần lẻ, lá chét hình thuôn, trái xoan, dài 6-12 cm, rộng 3-6cm, chất lá cứng, ròn, mặt trên bóng, mặt dưới sẫm hơn, đầu và gốc lá hơi lệch. Gân bên 8-10 đôi; không có lá kèm. Lá ở cây con khác với cây trưởng thành, thường là lá đơn nguyên hay xẻ, sau mới chuyển dần sang dạng lá kép.
Cụm hoa chùm hình viên chuỳ, thường dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn. Hoa tạp tính hay đơn tính, màu trắng vàng nhạt, cuống có lá bắc dạng vảy, cuống hoa dài 1,5-2 cm. Quả hạch hình trứng, dài 3,5-4,5 cm, rộng 2-2,5 cm, khi chín màu đen sẫm, thịt hồng. Hạt hoá gỗ rất cứng, 3 ô, mỗi ô có nhân hạt màu trắng và nhiều dầu.
Hình dáng cây con thay đổi nhiều, từ lá xẻ thùy lên lá đơn, cuối cùng mới sinh lá kép như cây trưởng thành [7]. Đặc điểm sinh thái Cây Trám ưa đất sét hoặc sét pha, sâu ẩm và thoát nước, độ pH 4,5-5,5; nhưng cũng gặp Trám đen phát triển tốt trên đất cát có nhiều phù sa ven sông. Cây Trám phù hợp với nhiệt độ trung bình năm từ 21-25°C, lượng mưa bình quân năm từ 1500-2000mm. Là loài cây ưa sáng khi trưởng thành, nhưng hơi ưa bóng nhẹ khi còn non.
Từ 1 tuổi trở lên cây có thể mọc nơi ánh sáng hoàn toàn, vì vậy ít gặp cây con tái sinh ở dưới tán rừng có độ phủ trên 0,6. Ở chiều cao khoảng 1m, nếu không được mở sáng mạnh cây Trám con có thể bị chết. Trám đen tái 6 sinh mạnh ở nơi có độ tàn che 0,2-0,3, nơi bìa rừng, nơi rừng bị khai thác mạnh hoặc rừng cây tiên phong định vị. Cây trồng bằng hạt 5-6 năm bắt đầu ra hoa, nếu trồng bằng cây ghép thì sau 2-3 năm sẽ cho hoa.
Cây ra hoa vào tháng 2-3, quả chín vào tháng 7-9. Thời gian ra quả kéo dài hàng trăm năm. Tuổi thọ của cây trám đen có thể trên trăm năm. Do lá có mùi thơm, vị hơi chua nên các cây trám đen con mới trồng dễ bị các loài thú đến ăn lá và ngọn non.
Ở giai đoạn 1-3 tuổi trám đen cũng dễ bị sâu đục ngọn làm chết cây [4]. Cơ sở khoa học về sinh trƣởng Sinh trưởng là sự tăng lên của môt đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hóa của một vật sống hoặc sự biến đổi của nhân tố điều tra theo thời gian (Vũ Tiến Hinh, 1997) [11]. Do sinh trưởng gắn liền với thời gian nên được gọi là quá trình sinh trưởng. Các đại lượng sinh trưởng được xác định trực tiếp hoặc gián tiếp qua chỉ tiêu nào đó của cây.
Ví dụ: Chiều cao (H), đường kính (D), thể tích (V). Sự biến đổi theo thời gian của các đại lượng này đèu có quy luật. Sinh trưởng của cây rừng và lâm phần là trọng tâm nghiên cứu của sản lượng rừng và là vấn đề có tính chất nền tảng để nghiên cứu các phương pháp dự đoán sản lượng cũng như xác định hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng suất cây rừng. Nghiên cứu sinh trưởng dựa trên những kiến thức về sinh thái rừng (sinh thái quần xã).
Trong suốt quá trình sinh trưởng của cây rừng nói riêng và cả quần xã rừng nói chung đều chịu tác động của điều kiện tự nhiên và ngược lại nó cũng ảnh hưởng, gây biến đổi điều kiện tự nhiên trong quần xã rừng. Điều kiện tự nhiên và quần xã rừng có quan hệ qua lại hữu cơ.