Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trám đen (Canarium tramdenum Dai & Yakovl) là loài cây gỗ lớn bản địa thuộc họ Trám (Burseraceae), phân bố tự nhiên chủ yếu tại các khu rừng nhiệt đới thường xanh khu vực Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Tại Việt Nam, Trám đen phân bố rộng từ các tỉnh vùng núi, trung du phía Bắc đến Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Đây là loài cây đa mục đích mang lại giá trị kinh tế cao: thân gỗ lớn dùng trong xây dựng và công nghiệp; quả chứa hàm lượng dinh dưỡng phong phú (canxi, sắt, vitamin C) được dùng làm thực phẩm đặc sản; hạt lấy nhân ép dầu; nhựa cây phục vụ sản xuất hương, nến, véc-ni, keo dán; các bộ phận vỏ, rễ, lá đều là những nguồn dược liệu quý.

Tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Trám đen là nguồn gen bản địa nổi tiếng, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đáng kể so với cây lúa và các loại cây ăn quả truyền thống. Tuy nhiên, phần lớn diện tích Trám tại địa phương trước đây là cây mọc tự nhiên hoặc trồng bằng hạt phân tán trong vườn đồi. Phương thức nhân giống bằng hạt bộc lộ nhiều hạn chế: thời gian kiến thiết cơ bản kéo dài (5–6 năm mới bắt đầu ra hoa), tỷ lệ phân ly di truyền cao, cây phân cành muộn và khó kiểm soát giới tính hoa đực - cái. Nhằm rút ngắn thời gian cho thu hoạch, duy trì đặc tính di truyền ưu việt từ cây mẹ và cải tạo vườn tạp, xã Hà Châu đã bước đầu triển khai các mô hình trồng cây Trám ghép (bằng phương pháp ghép áp và ghép nêm) từ nguồn vật liệu chọn lọc tại chỗ từ tháng 1 năm 2015.

Sau hơn một năm đưa vào trồng thử nghiệm, việc theo dõi và định lượng khả năng sinh trưởng, phát triển của các mô hình này trên địa bàn chưa được tiến hành đồng bộ. Đề tài "Đánh giá sinh trưởng mô hình Trám đen ghép tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để hoàn thiện quy trình kỹ thuật lâm sinh phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Xác định tỷ lệ sống của cây ghép sau khi trồng tại các mô hình thử nghiệm.
  2. Đánh giá tình hình sinh trưởng và phát triển của các mầm ghép Trám đen qua các chỉ tiêu hình thái và hiện trạng sâu bệnh hại.
  3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp trong việc trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho mô hình Trám ghép tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Trám đen ghép được trồng trong mô hình cải tạo vườn tạp và trồng xen tại nông hộ.
  • Không gian nghiên cứu: Địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; tập trung theo dõi tại 02 mô hình thử nghiệm thuộc hộ gia đình ông Nguyễn Văn Tụ và hộ gia đình cô Trương Thị Thúy.
  • Thời gian thực hiện: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên cơ sở lý thuyết về sinh trưởng cây rừng và lâm phần trong khoa học điều tra rừng và sản lượng rừng (Vũ Tiến Hinh, 1997). Sinh trưởng được định nghĩa là sự biến đổi của các nhân tố điều tra (chiều cao, đường kính, tán lá) theo thời gian dưới tác động tương hỗ giữa đặc tính sinh học của loài và điều kiện sinh thái quần xã (đất đai, khí hậu, mật độ, chế độ chăm sóc). Về mặt phân loại học, loài được xác định danh pháp khoa học hợp pháp là Canarium tramdenum Dai & Yakovl (họ Burseraceae).

Nghiên cứu kế thừa các kết quả thực nghiệm về kỹ thuật nhân giống vô tính và xây dựng mô hình Trám của nhiều tác giả đi trước:

  • Phạm Đình Tam (2004) về kỹ thuật ghép áp, ghép nêm (tỷ lệ sống 65–70% vào vụ Xuân và Thu) và mô hình Trám trắng;
  • Đỗ Duy Khôi (2005) về thời vụ ghép Trám (vụ Xuân đạt tỷ lệ sống 86,67% so với vụ Đông 53,33%);
  • Ong Thế Quảng (2006) về vị trí cành ghép ngọn (tỷ lệ sống 84%);
  • Trần Đức Mạnh (2004–2007) về khảo nghiệm 8,5 ha mô hình Trám đen lấy gỗ và lấy quả tại Hòa Bình, Nghệ An;
  • Lương Thị Anh (2008, 2010) và Nguyễn Thị Thu Hoàn (2005, 2006, 2007) về quy trình ghép, vị trí lấy cành và xây dựng mô hình Trám phân tán quy mô hộ gia đình tại Thái Nguyên;
  • Lâm Văn Sáng (2015) về số liệu ban đầu khi thiết lập mô hình Trám ghép năm 2015 tại xã Hà Châu.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Tổng hợp tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Hà Châu và cơ sở dữ liệu nền của mô hình từ khóa luận năm 2015.
  • Phương pháp điều tra ngoại nghiệp: Tiến hành đo đếm định kỳ 3 đợt thực địa bắt đầu từ ngày 12/02/2016, khoảng cách giữa các đợt đo là 45 ngày. Sử dụng thước dây chuyên dụng có độ chính xác đến 10 cm để thu thập các chỉ tiêu:
    • Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$);
    • Chiều cao mầm ghép ($H_{mầm}$);
    • Đường kính tán ($D_t$), tính bằng trung bình cộng của hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc theo công thức: $$D_t = \frac{D_{tĐT} + D_{tNB}}{2}$$
    • Tình hình phát sinh mầm hoa và phân loại mức độ gây hại của sâu bệnh.
  • Tiêu chí phân loại phẩm chất cây: Đánh giá dựa trên tổ hợp chỉ tiêu sinh trưởng và hình thái thành 3 cấp:
    • Cây tốt: Thân to, cao, tán cân đối, thẳng đẹp, không bị sâu bệnh;
    • Cây trung bình: Thân to, cao nhưng tán không cân đối, thân cong queo, ít sâu bệnh;
    • Cây xấu: Thân còi cọc, cong queo, sâu bệnh hại nhiều.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu ngoại nghiệp được phân loại, thống kê mô tả và tính toán giá trị trung bình trên máy tính.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của công tác bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng và phát triển các loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao. Chương này làm rõ vị thế của cây Trám đen như một cây trồng bản địa đa tác dụng tại xã Hà Châu, đồng thời chỉ ra khoảng trống thực tiễn khi mô hình ghép thử nghiệm tại địa phương chưa có công trình theo dõi, đánh giá khả năng sinh trưởng sau 1 năm đưa vào sản xuất. Từ đó, xác định rõ ràng mục đích, mục tiêu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng hợp toàn diện các nghiên cứu trong và ngoài nước về chi Canarium (gồm 75 loài trên thế giới, 8 loài tại Việt Nam), tập trung vào hai loài chủ lực là Trám trắng (C. album) và Trám đen (C. tramdenum). Tác giả mô tả chi tiết đặc điểm phân bố (độ cao thích hợp 100–400 m, ưa đất sét/sét pha sâu ẩm, pH 4,5–5,5, lượng mưa 1500–2000 mm/năm), hình thái và đặc tính sinh thái ưa sáng.

Phần tổng quan tình hình kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu cung cấp các số liệu quan trọng về xã Hà Châu: diện tích tự nhiên 529,05 ha (trong đó đất nông nghiệp chiếm 386,54 ha với 235 ha đất 2 lúa), dân số 1.090 hộ/3.048 lao động (lao động nông nghiệp chiếm 68,9%). Địa phương có địa hình trung du ven sông Cầu với các gò đồi dạng bát úp cao 20–30 m, hệ thống giao thông có 35,297 km đường (tỷ lệ cứng hóa đường xã đạt 43,81%, đường nội đồng chỉ đạt 4,09%), hệ thống kênh mương chính dài 34,06 km (kiên cố hóa 13,75 km kênh tưới). Các điều kiện tự nhiên này cho thấy tiềm năng lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang vườn đồi và nông lâm kết hợp.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương quy định chi tiết địa điểm, thời gian (12/2015 – 05/2016), đối tượng theo dõi và hệ thống chỉ tiêu đo đếm ($H_{vn}$, $H_{mầm}$, $D_t$). Phương pháp phân cấp phẩm chất (Tốt, Trung bình, Xấu) và quy trình điều tra định kỳ 45 ngày/lần được chuẩn hóa nhằm đảm bảo tính khách quan và khả năng so sánh của số liệu thực địa.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu điều tra thực nghiệm:

  • Mô tả mô hình:
    • Mô hình 1 (hộ ông Nguyễn Văn Tụ): Diện tích trồng 2.500 $\text{m}^2$ trên tổng diện tích vườn 1 ha. Ban đầu trồng 43 cây ghép (cự ly $6 \times 8\text{ m}$) gồm 30 cây trồng xen (với Trám hạt, dứa, lạc, đỗ, sắn, chuối) và 13 cây ghép cải tạo tại gốc.
    • Mô hình 2 (hộ cô Trương Thị Thúy): Diện tích trồng 1.100 $\text{m}^2$ trên tổng diện tích 8.600 $\text{m}^2$, ban đầu trồng 23 cây ghép theo hình thức trồng xen (với Trám hạt, cam, chuối, sắn).
  • Tỷ lệ sống và phẩm chất: Mô hình 1 đạt tỷ lệ sống 76,74% (33 cây sống, 10 cây chết); Mô hình 2 đạt tỷ lệ sống 69,57% (16 cây sống, 7 cây chết). Về phẩm chất, tỷ lệ cây đạt loại Tốt ở Mô hình 1 là 63,64% (21 cây), Trung bình 27,27% (9 cây), Xấu 9,09% (3 cây); ở Mô hình 2 loại Tốt đạt 56,25% (9 cây), Trung bình 25,00% (4 cây), Xấu 18,75% (3 cây).
  • Động thái sinh trưởng qua 3 kỳ đo năm 2016:
    • Mô hình 1: $H_{vn}$ tăng từ 92,45 cm lên 102,24 cm (tăng 9,79 cm); $H_{mầm}$ tăng từ 57,79 cm lên 67,52 cm (tăng 9,73 cm); $D_t$ tăng từ 94,09 cm lên 98,65 cm (tăng 4,56 cm). Ghi nhận 02 cây đã bắt đầu ra hoa (cây số 12 và cây số 23).
    • Mô hình 2: $H_{vn}$ tăng từ 70,63 cm lên 79,31 cm (tăng 8,68 cm); $H_{mầm}$ tăng từ 46,50 cm lên 54,81 cm (tăng 8,31 cm); $D_t$ tăng từ 72,19 cm lên 77,41 cm (tăng 5,22 cm). Chưa ghi nhận hiện tượng ra hoa.
  • So sánh tăng trưởng lũy kế sau 1 năm tại Mô hình 1 (từ 2015 đến 5/2016): $H_{vn}$ tăng từ 44,75 cm lên 102,24 cm (tăng 57,49 cm); $H_{mầm}$ tăng từ 23,25 cm lên 67,52 cm (tăng 44,27 cm); $D_t$ tăng từ 18,85 cm lên 98,65 cm (tăng 79,80 cm).
  • Tình hình sâu bệnh và điều kiện thời tiết: Cây trải qua mùa đông lạnh kèm mưa phùn dẫn đến hiện tượng thối ngọn, cháy lá; mùa hè khô nóng gây vàng lá, gãy mầm ghép; ghi nhận sự xuất hiện của rệp chích hút nhựa búp non.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các chỉ số sinh trưởng đạt được, khẳng định tính khả thi của mô hình Trám đen ghép tại xã Hà Châu. Tác giả kiến nghị chi tiết hệ thống quy trình kỹ thuật lâm sinh: mật độ trồng 200–220 cây/ha ($6 \times 8\text{ m}$); cuốc hố $40 \times 40 \times 40\text{ cm}$ (đất rừng) hoặc $50 \times 50 \times 50\text{ cm}$ (vườn nhà); bón lót 1–2 kg phân chuồng hoai mục + 0,1–0,2 kg NPK; chăm sóc 3 năm đầu với 2 lần/năm; tạo tán khi cây đạt 1–1,2 m (bấm ngọn giữ 4–5 cành cấp 1 và 8–10 cành cấp 2); ngắt hoa trong 3 năm đầu; chế độ bón phân phục hồi và nuôi quả trong giai đoạn kinh doanh; cùng các giải pháp hỗ trợ vốn vay và khuyến nông.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng cụ thể các chỉ tiêu lâm sinh của cây Trám đen ghép sau hơn 1 năm trồng tại xã Hà Châu thông qua các bảng số liệu thực tế:

Chỉ tiêu theo dõi Mô hình 1 (Hộ ông Tụ) Mô hình 2 (Hộ cô Thúy)
Số cây trồng ban đầu (tháng 1/2015) 43 cây 23 cây
Số cây sống (tháng 5/2016) 33 cây 16 cây
Tỷ lệ sống (%) 76,74% 69,57%
Tỷ lệ chết (%) 23,26% 30,43%
Tỷ lệ cây phẩm chất Tốt (%) 63,64% (21 cây) 56,25% (9 cây)
Tỷ lệ cây phẩm chất Trung bình (%) 27,27% (9 cây) 25,00% (4 cây)
Tỷ lệ cây phẩm chất Xấu (%) 9,09% (3 cây) 18,75% (3 cây)
Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) cuối kỳ 102,24 cm 79,31 cm
Chiều cao mầm ghép ($H_{mầm}$) cuối kỳ 67,52 cm 54,81 cm
Đường kính tán ($D_t$) cuối kỳ 98,65 cm 77,41 cm
Số cây xuất hiện mầm hoa 02 cây 0 cây

Biến động sinh trưởng tại Mô hình 1 sau 1 năm nuôi dưỡng (so sánh số liệu năm 2015 và tháng 5/2016) được tổng hợp như sau:

Chỉ tiêu sinh trưởng Ban đầu (Năm 2015) Lần đo cuối (Tháng 5/2016) Lượng tăng trưởng tuyệt đối
Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) 44,75 cm 102,24 cm +57,49 cm
Chiều cao mầm ghép ($H_{mầm}$) 23,25 cm 67,52 cm +44,27 cm
Đường kính tán ($D_t$) 18,85 cm 98,65 cm +79,80 cm

Hệ thống giải pháp lâm sinh tác giả đề xuất:

  1. Kỹ thuật gây trồng: Thời vụ trồng vào đầu mùa mưa (vụ Xuân hoặc Hè Thu ở miền Bắc); trồng theo đám quanh vườn nhà với mật độ 200–220 cây/ha ($6 \times 8\text{ m}$); hố đào kích thước $50 \times 50 \times 50\text{ cm}$ (vườn) trước 1 tháng; bón lót 1–2 kg phân chuồng hoai mục trộn 0,1–0,2 kg NPK/gốc và vun mai rùa.
  2. Chế độ chăm sóc cây con (1–3 năm đầu): Chăm sóc 2 lần/năm (tháng 4–5 và tháng 10–11); phát cỏ, xới xáo vun gốc đường kính 60–80 cm, sâu 3–4 cm; bón thúc 0,1–0,3 kg NPK/cây ở đợt 1; bón hàng năm 20–30 kg phân chuồng/cây kết hợp 0,5–1 kg urê, 0,2–0,5 kg kali clorua, 1–2 kg supe lân chia làm 4–5 đợt; duy trì độ ẩm đất 70–80%.
  3. Định hình tán và nuôi dưỡng mầm ghép: Bóc màng nilon vết ghép khi trồng; tỉa bỏ các mầm phụ mọc từ gốc ghép và lá già; bấm ngọn khi cây cao 1–1,2 m để tạo 4–5 cành cấp 1 và 8–10 cành cấp 2; ngắt hoa trong 3 năm đầu để tập trung dinh dưỡng phát triển thân tán.
  4. Kỹ thuật chăm sóc cây kinh doanh: Bón 3 đợt/năm gồm đợt phục hồi sau thu hoạch (30–50 kg phân chuồng + tỷ lệ phân hóa học 2 đạm : 1 kali : 4 lân), đợt đón hoa tháng 1 (tỷ lệ 1 đạm : 1 kali) và đợt thúc quả tháng 4 (tỷ lệ 1 đạm : 2 kali); phun chế phẩm A-H 502 kèm chất bám dính 2–3 lần (khi có nụ và khi quả non bằng đầu đũa) giúp tăng tỷ lệ đậu quả 15–20%.
  5. Phòng trừ sâu bệnh: Áp dụng phòng trừ cơ giới và sinh học (ngắt đốt lá sâu bệnh, dùng bẫy đèn bắt bướm đêm, bảo vệ thiên địch kiến lửa, ong); ưu tiên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học khi bùng phát dịch rệp hoặc thối búp non.

Đóng góp của khóa luận: Công trình đã cung cấp chuỗi số liệu định lượng thực địa đầu tiên về tỷ lệ sống, tốc độ phát triển mầm ghép và khả năng ra hoa sớm (sau 1 năm) của cây Trám đen ghép tại xã Hà Châu, chứng minh hiệu quả vượt trội của giải pháp ghép vô tính so với nhân giống từ hạt truyền thống tại vùng đất bãi, gò đồi trung du Phú Bình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Quy mô nghiên cứu còn hẹp, mới theo dõi trên 02 mô hình nông hộ với tổng số lượng 66 cây ban đầu (49 cây sống sót), chưa đại diện đầy đủ cho các điều kiện tiểu lập địa khác nhau trong toàn xã.
  • Thời gian theo dõi trực tiếp kéo dài 6 tháng (từ 12/2015 đến 5/2016 trên nền cây trồng 1 năm tuổi), do đó chưa phản ánh được toàn diện chu kỳ sinh trưởng của cây ở các giai đoạn sau cũng như năng suất và chất lượng quả khi bước vào thời kỳ kinh doanh ổn định.
  • Chưa bố trí các thí nghiệm so sánh đối chứng nghiêm ngặt về các công thức phân bón, liều lượng tưới hoặc các phương thức phòng trừ sinh học đối với sâu bệnh hại.

Hướng nghiên cứu tiếp được xác định:

  • Tiếp tục theo dõi động thái sinh trưởng, cấu trúc tán và năng suất ra quả của các mô hình này trong giai đoạn từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 sau trồng.
  • Nghiên cứu sâu hơn về đặc tính sinh học của các loài sâu bệnh hại chính (đặc biệt là rệp chích hút và sâu đục ngọn) cùng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây Trám ghép tại vùng trung du Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Trồng trọt và Nông lâm kết hợp tham khảo phương pháp điều tra sinh trưởng cây lâm sản ngoài gỗ, cách thức xử lý số liệu điều tra cây gỗ ghép đa mục đích.
  • Cán bộ khuyến nông, khuyến lâm địa phương: Sử dụng các bảng định lượng sinh trưởng và khung quy trình kỹ thuật (mật độ, hố đào, bón phân, tỉa cành tạo tán, bấm ngọn) để xây dựng tài liệu tập huấn kỹ thuật cho nông dân.
  • Các hộ nông dân khu vực trung du miền núi phía Bắc: Ứng dụng trực tiếp quy trình trồng dặm, ghép cải tạo vườn tạp và lịch bón phân để chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tỷ lệ sống của cây Trám đen ghép tại hai mô hình thử nghiệm ở xã Hà Châu là bao nhiêu?
Tỷ lệ sống được ghi nhận sau hơn 1 năm trồng tại Mô hình 1 (hộ ông Nguyễn Văn Tụ) là 76,74% (33/43 cây sống, 10 cây chết); tại Mô hình 2 (hộ cô Trương Thị Thúy) là 69,57% (16/23 cây sống, 7 cây chết).

2. Tốc độ tăng trưởng về chiều cao và đường kính tán của cây Trám ghép tại Mô hình 1 sau một năm chăm sóc đạt mức nào?
So sánh giữa số liệu ban đầu (năm 2015) và kết thúc nghiên cứu (tháng 5/2016), cây Trám ghép tại Mô hình 1 có:

  • Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) tăng từ 44,75 cm lên 102,24 cm (tăng 57,49 cm);
  • Chiều cao mầm ghép ($H_{mầm}$) tăng từ 23,25 cm lên 67,52 cm (tăng 44,27 cm);
  • Đường kính tán ($D_t$) tăng từ 18,85 cm lên 98,65 cm (tăng 79,80 cm).

3. Khóa luận có ghi nhận cây Trám ghép ra hoa sau một năm trồng hay không?
Có. Trong quá trình điều tra thực địa đợt 3 năm 2016, tác giả ghi nhận tại Mô hình 1 đã có 02 cây xuất hiện mầm hoa (cây số 12 và cây số 23), trong khi các cây tại Mô hình 2 chưa xuất hiện hiện tượng ra hoa.

4. Những loại sâu bệnh hại chính nào đã xuất hiện trên mô hình Trám ghép tại xã Hà Châu?
Khóa luận ghi nhận các đối tượng dịch hại gồm: rệp chích hút nhựa búp non sau mùa đông làm cây còi cọc; bệnh thối ngọn, cháy lá xuất hiện sau thời tiết mùa đông mưa phùn kéo dài nhiệt độ thấp; và hiện tượng vàng lá, cháy lá, gãy mầm ghép vào mùa hè nắng nóng có gió bão.

5. Kỹ thuật tạo hình tỉa tán cho cây Trám ghép trong 3 năm đầu được khuyến nghị thực hiện như thế nào?
Khi cây đạt chiều cao 1–1,2 m, tiến hành bấm ngọn để kích thích phân cành; mỗi cây giữ lại 4–5 cành cấp 1 và 8–10 cành cấp 2 tỏa đều xung quanh. Đồng thời, cần ngắt bỏ toàn bộ các mầm phụ mọc dưới gốc ghép, cắt bỏ dây leo, tỉa lá già và ngắt toàn bộ hoa xuất hiện trong 3 năm đầu để tập trung dinh dưỡng nuôi thân tán.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Minh Hải đã thực hiện việc đánh giá thực nghiệm sinh trưởng của cây Trám đen ghép tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình sau hơn một năm thiết lập mô hình. Kết quả chứng minh cây Trám ghép đạt tỷ lệ sống khá cao (69,57% – 76,74%), sinh trưởng nhanh về chiều cao và đường kính tán, đồng thời bước đầu ghi nhận khả năng ra hoa sớm vượt trội so với cây trồng từ hạt. Dữ liệu thực địa và hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh được đề xuất trong công trình là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tế cho việc cải tạo vườn tạp và nhân rộng mô hình Trám đen tại các địa phương trung du Bắc Bộ.