Luận văn: Quản lý đa dạng sinh học cộng đồng vùng đệm Bát Đại Sơn, Hà Giang

Luận văn nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý đa dạng sinh học dựa trên sự tham gia cộng đồng dân cư vùng đệm tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Hà Giang.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Tác giả

Hoàng Minh Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

2018

163
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý đa dạng sinh học vùng đệm

Đa dạng sinh học (ĐDSH) là tài nguyên quý giá, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập nhằm bảo tồn các giá trị sinh học đặc hữu. Tuy nhiên, áp lực từ cộng đồng dân cư sống trong và xung quanh các khu bảo tồn ngày càng gia tăng. Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang là một minh chứng điển hình. Vùng đệm trong của khu bảo tồn này chịu nhiều tác động bất lợi từ hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số. Việc nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý ĐDSH dựa trên sự tham gia của cộng đồng dân cư vùng đệm trong trở thành yêu cầu cấp thiết. Phương pháp tiếp cận này nhằm phát huy vai trò chủ thể của người dân địa phương trong quá trình bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu tập trung vào các thôn Xà Phìn, Pải Chư Phìn, Thào Chư Phìn thuộc xã Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ.

1.1. Khái niệm đa dạng sinh học và khu bảo tồn

Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng ở ba cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất được quy hoạch nhằm bảo tồn các giá trị sinh học đặc biệt. Bát Đại Sơn được thành lập với mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái rừng nguyên sinh, các loài động thực vật quý hiếm. Khu bảo tồn có tổng diện tích khoảng 7.128 ha, nằm trên địa bàn huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

1.2. Vai trò của cộng đồng dân cư trong bảo tồn

Cộng đồng dân cư vùng đệm đóng vai trò kép trong công tác bảo tồn.一方面,他们是自然资源的直接使用者,依赖森林获取生计.另一方面,他们是保护区管理的重要参与者. Quản lý dựa vào cộng đồng (Community-Based Management) là phương pháp tiếp cận khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương vào quá trình ra quyết định và thực thi các hoạt động bảo tồn. Phương pháp này giúp cân bằng giữa bảo tồn và phát triển sinh kế bền vững.

II. Phân tích thực trạng đa dạng sinh học tại Bát Đại Sơn

Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn nằm trong vùng núi cao phía Bắc Việt Nam, thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới. Hệ sinh thái này chứa đựng nguồn tài nguyên ĐDSH phong phú với nhiều loài động thực vật quý hiếm. Tuy nhiên, thực trạng ĐDSH tại khu bảo tồn đang chịu nhiều áp lực từ hoạt động của cộng đồng dân cư vùng đệm trong. Các tác động bất lợi bao gồm khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã, đốt nương làm rẫy và chăn thả gia súc tự do. Mức độ tác động ngày càng gia tăng do áp lực về sinh kế và sự gia tăng dân số. Nhận thức của người dân về bảo tồn còn hạn chế. Các quy định pháp luật về bảo tồn chưa được thực thi nghiêm túc tại cơ sở. Tình trạng vi phạm vẫn diễn ra phức tạp, gây suy giảm đáng kể nguồn tài nguyên ĐDSH trong khu bảo tồn.

2.1. Các tác động bất lợi từ cộng đồng dân cư

Cộng đồng dân cư vùng đệm trong gây ra nhiều loại tác động bất lợi đến ĐDSH. Hoạt động khai thác gỗ và lâm sản phụ diễn ra phổ biến, phục vụ nhu cầu xây dựng và sinh hoạt. Săn bắt động vật hoang dã nhằm mục đích thương mại và tiêu dùng. Đốt nương làm rẫy gây mất diện tích rừng và suy thoái hệ sinh thái. Chăn thả gia súc tự do gây tổn hại đến thảm thực vật và sự tái sinh tự nhiên của rừng. Các hoạt động này làm giảm đa dạng loài và suy thoái chất lượng sinh cảnh.

2.2. Nguyên nhân của các tác động bất lợi

Nguyên nhân chính dẫn đến các tác động bất lợi xuất phát từ nhiều yếu tố. Điều kiện kinh tế khó khăn迫使 người dân依赖自然资源 để满足基本生活需求. Trình độ dân trí và nhận thức về bảo tồn còn thấp. Các chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế替代 cho cộng đồng chưa hiệu quả. Cơ chế giám sát và thực thi pháp luật còn lỏng lẻo. Sự thiếu vắng cơ chế chia sẻ lợi ích từ bảo tồn khiến cộng đồng không có động lực tham gia bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

III. Đề xuất giải pháp quản lý dựa trên tham gia cộng đồng

Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, luận văn đề xuất các giải pháp quản lý ĐDSH dựa trên sự tham gia của cộng đồng dân cư vùng đệm trong. Giải pháp đầu tiên là xây dựng cơ chế quản lý cộng đồng thông qua các nhóm hộ gia đình và thôn bản. Cộng đồng dân cư cần được trao quyền và giao trách nhiệm trong việc bảo vệ các khu vực rừng được phân công. Giải pháp thứ hai là phát triển các mô hình sinh kế bền vững替代 cho các hoạt động khai thác tài nguyên gây hại. Các mô hình bao gồm trồng cây dược liệu, phát triển du lịch sinh thái và chăn nuôi an toàn sinh học. Giải pháp thứ ba là tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn ĐDSH. Giải pháp thứ tư là xây dựng cơ chế giám sát và thực thi pháp luật có sự tham gia của cộng đồng. Các nhóm tuần tra cộng đồng cần được thành lập và hỗ trợ kinh phí hoạt động.

3.1. Xây dựng cơ chế quản lý cộng đồng

Cơ chế quản lý cộng đồng được xây dựng dựa trên nguyên tắc trao quyền và chia sẻ trách nhiệm. Các nhóm hộ gia đình quản lý rừng được thành lập tại mỗi thôn, với sự tham gia của đại diện từ ba nhóm kinh tế hộ nghèo, trung bình và khá. Nhóm quản lý có nhiệm vụ tuần tra, giám sát và báo cáo các hoạt động vi phạm. Ban quản lý khu bảo tồn hỗ trợ kỹ thuật và giám sát hoạt động của các nhóm cộng đồng. Quy chế hoạt động và kế hoạch quản lý được xây dựng thông qua quá trình tham vấn cộng đồng.

3.2. Phát triển mô hình sinh kế bền vững

Các mô hình sinh kế bền vững nhằm giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên từ cộng đồng. Mô hình trồng cây dược liệu bản địa như thảo quả, sa nhân利用条件 tự nhiên的优势. Phát triển du lịch sinh thái khám phá cảnh quan và văn hóa dân tộc thiểu số. Chăn nuôi an toàn sinh học áp dụng cho gia súc, gia cầm bản địa. Các mô hình này được thí điểm tại các thôn nghiên cứu trước khi nhân rộng. Ngân sách hỗ trợ từ các chương trình mục tiêu quốc gia và tổ chức phi chính phủ.

IV. Kết luận và khả năng ứng dụng giải pháp quản lý

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ĐDSH dựa trên sự tham gia của cộng đồng dân cư vùng đệm trong. Kết quả nghiên cứu cho thấy cộng đồng dân cư tại các thôn Xà Phìn, Pải Chư Phìn, Thào Chư Phìn là tác nhân chính gây ra các tác động bất lợi đến ĐDSH trong khu bảo tồn Bát Đại Sơn. Nguyên nhân xuất phát từ điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức hạn chế và thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của địa phương. Giải pháp quản lý cộng đồng kết hợp phát triển sinh kế bền vững được kỳ vọng giảm thiểu đáng kể các tác động bất lợi. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả cần sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền, ban quản lý khu bảo tồn và cộng đồng dân cư. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng tại các khu bảo tồn thiên nhiên khác trên địa bàn tỉnh Hà Giang và các vùng núi phía Bắc.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài đóng góp vào kho tàng kiến thức về quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng tại Việt Nam. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và ĐDSH tại khu bảo tồn vùng núi cao. Về mặt thực tiễn, các giải pháp đề xuất hỗ trợ ban quản lý khu bảo tồn xây dựng kế hoạch quản lý hiệu quả. Kết quả nghiên cứu giúp chính quyền địa phương ban hành các chính sách phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng vùng đệm. Mô hình quản lý có thể nhân rộng áp dụng tại các khu bảo tồn tương tự.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để đánh giá hiệu quả thực tế của các giải pháp đề xuất. Nghiên cứu theo dõi dài hạn về sự thay đổi đa dạng sinh học sau khi áp dụng cơ chế quản lý cộng đồng. Đánh giá tác động kinh tế xã hội của các mô hình sinh kế bền vững đối với cộng đồng dân cư. Nghiên cứu mở rộng phạm vi áp dụng mô hình quản lý tại các khu bảo tồn khác trong vùng. Xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý ĐDSH dựa trên sự tham gia cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý đa dạng sinh học dựa trên sự tham gia của cộng đồng dân cư ở vùng đệm trong tại khu bảo tồn thiên nhiên bát đại sơn tỉnh hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo chuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã đƣợc quan tâm; các giải pháp bảo tồn ĐDSH, các chƣơng trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ hƣởng lợi từ động vật hoang dã, con ngƣời và sinh quyển cũng đã đƣợc triển khai. Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và KBT đƣợc tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính phủ tại các hội nghị đã rút ra đƣợc nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng nhƣ cơ hội để các nƣớc có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn. Càng về sau, hội nghị càng chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hội nghị lần V hiệp ƣớc Durban về biến đổi khí hậu toàn cầu và kế hoạch hành động đƣợc thông qua. Ở Vƣờn quốc gia Kakadu (Australia), những ngƣời thổ dân chẳng những đƣợc chung sống với vƣờn quốc gia một cách hợp pháp mà họ còn đƣợc thừa nhận là chủ hợp pháp mà họ còn tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý.

Ở Nepan lâm nghiệp cộng đồng mới xuất hiện nổi bật là sự tham gia của ngƣời dân vào quản lý rừng. Ngày nay lâm nghiệp cộng đồng trở thảnh nguồn thu nhập và cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây. Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trƣờng và Phát triển bền vững (UNCED) ở Rio dejanerio, vấn đề này đã chính thức đƣợc công nhận (Trần Ngọc Lân, chủ biên, 1999).

Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự cần thiết phải có sự tham gia của ngƣời dân vào các hoạt động bảo tồn tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của ngƣời dân vào các hoạt động bảo tồn 10 tài nguyên. Tuy nhiên, chƣa có những nghiên cứu định lƣợng xác định những tác động cụ thể dẫn tới những tác động đó vào tài nguyên rừng. Tình hình nghiên cứu quản lý bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Việt Nam là một trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lƣợc quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu.

của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là nơi giao giao thoa giữa các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002-Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và Phát triển kinh tế). ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái.

Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vƣợng của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ƣớc tính giá trị của tài nguyên ĐDSH toàn cầu cung cấp cho con ngƣời là 33.000 tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al- 1997). Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên ĐDSH trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nƣớc khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam-1995). Nhận thấy vai trò quan trọng của giá trị ĐDSH, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp để bảo vệ nguồn tài nguyên ĐDSH, trong đó biện pháp bảo tồn nguyên vị đƣợc thực hiện bằng cách thành lập các KBTTN, nhằm bảo vệ các loài, sinh cảnh và các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên.

Việc thành lập các khu rừng đặc dụng đã làm thay đổi đối với cuộc sống của cộng đồng dân cƣ sống ở gần rừng. Bắt đầu từ những thay đổi về chỗ ở, thói quen trong canh tác, nguồn sản phẩm sẵn có ở rừng, dẫn tới nhiều thay đổi khác về tập quán canh tác, kinh tế, văn hóa, … Ngƣời dân địa phƣơng thƣờng bị hạn chế hoặc không còn đƣợc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong đó. Các khu rừng đặc dụng thƣờng có đặc điểm chung là địa hình hiểm trở khó đi lại, là nơi sinh sống của các 11 dân tộc ít ngƣời, đa số họ đều đang sống trong tình trạng nghèo đói, diện tích đất canh tác hẹp và ít có cơ hội tiếp cận với thị trƣờng, đời sống của họ còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên trong các khu rừng đặc dụng. Do vậy, tìm kiếm các nguồn thu nhập khác thay thế cho các thu nhập từ tài nguyên trực tiếp của KBT đã bị ngăn cấm khai thác nhằm đảm bảo và nâng cao sinh kế cho cộng đồng sống xung quanh có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc xây dựng các chiến lƣợc dài hạn cũng nhƣ các kế hoạch hành động ngắn hạn cho quản lý khu bảo tồn hiệu quả.

Hiện nay, trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về đa dạng sinh học của Việt Nam nằm trong rất nhiều bộ, ngành. Cục Bảo tồn đa dạng sinh học - Tổng cục Môi trƣờng thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý về ĐDSH ở cấp quốc gia. Cơ quan này có trách nhiệm xây dựng chính sách và pháp luật về ĐDSH; quy hoạch bảo tồn ĐDSH; bảo tồn hệ sinh thái, loài và nguồn gen; quan trắc và báo cáo về đa dạng sinh học; và là đầu mối quốc gia của nhiều công ƣớc quốc tế về ĐDSH. Một số cơ quan khác cũng có trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về ĐDSH chuyên ngành ở cấp quốc gia trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, nhƣ Vụ Bảo tồn rừng Đặc dụng và Phòng hộ và Cục Kiểm lâm thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Vụ Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản của Tổng cục Thủy sản.

Ở cấp tỉnh có Sở Tài nguyên và Môi trƣờngvà Sở Nông nghiệp và PTNT là các cơ quan chịu trách nhiệm triển khai các chính sách và kế hoạch quốc gia về ĐDSH [2]. Hiệu quả quản lý của một KBT phụ thuộc phần lớn vào mức độ ủng hộ hay thù địch của cộng đồng địa phƣơng sống quanh KBT. Khi chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung đối với việc bảo tồn các giá trị ĐDSH trong các khu rừng đặc dụng, thì việc tồn tại những tác động bất lợi của cộng đồng dân cƣ ở vùng đệm vào nguồn tài nguyên ĐDSH nhƣ một tất yếu. Đặc biệt khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống ngƣời dân đƣợc cải thiện, thì xu hƣớng nhu cầu của con ngƣời cũng càng cao, đặc biệt đối với bộ phận những ngƣời có thu nhập cao thì càng có nhu cầu tiêu dùng các loại lâm sản quý hiếm.

Xu hƣớng tiêu dùng này đã thúc đẩy ngƣời nghèo sống ở gần rừng đẩy mạnh hoạt động khai thác trái phép các loại lâm sản quý hiếm để bán ra thị trƣờng, đã tác động xấu đến ĐDSH trong các khu rừng đặc dụng. 12 Trƣớc thực trạng trên, trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả quản lý các khu rừng đặc dụng theo quan điểm bảo tồn - phát triển. Đó là làm sao dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phƣơng. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau mà cho đến nay,vẫn chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, đồng bộ và toàn diện về tác động của cộng đồng địa phƣơng vùng đệm tới ĐDSH trong các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam.

Phần lớn vấn đề này mới thực hiện ở mức độ nhất định, ở một hoặc một số KBTTN, VQG đơn lẻ. Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu và hoàn thiện. Tình hình quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Bát Đại Sơn 1. Công tác bảo vệ rừng Hiện nay KBTTN Bát Đại Sơn có 06 cán bộ (bao gồm cả lãnh đạo), đang quản lý 5.039,4 ha rừng và đất rừng.Trong những năm qua, Ban quản lý KBT đã phối hợp chặt chẽ với các lực lƣợng trên địa bàn huyện nhƣ: Kiểm lâm, Công an, Bộ đội biên phòng, chính quyền địa phƣơng và các hộ gia đình để thực hiện công tác quản lý và bảo vệ rừng.

Kết quả là rừng đƣợc bảo vệ và phục hồi tốt hơn, những diện tích rừng trƣớc đây là nƣơng rẫy hoặc đất trống cây bụi, cây gỗ rải rác nay đã phục hồi thành rừng kín thƣờng xanh; các vụ săn bắt, bẫy thú và khai thác lâm sản trái phép đã giảm hẳn, góp phần to lớn trong công tác bảo tồnnguồn tài nguyên ĐDSH, giữ gìn cảnh quan, môi trƣờng sinh thái. Một số tồn tại trong công tác bảo vệ nguồn tài nguyên ĐDSH tại KBTTN Bát Đại Sơn: - Hiện tại, lực lƣợng cán bộ của KBT còn thiếu, khả năng cập nhật thông tin, kỹ năng tiếp cận cộng đồng của một số kiểm lâm viên còn hạn chế nên khi triển khai nhiệm vụ còn nhiều vƣớng mắc, hiệu quả chƣa cao; Trang thiết bị phục vụ cho công tác BVR, điều tra giám sát ĐDSH còn thiếu; - Việc tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng còn gặp rất nhiều khó khăn nhƣ: Các HGĐ ở xa trung tâm, phƣơng tiện tuyên truyền còn thiếu, sự hiểu biết của ngƣời dân còn hạn chế. Công tác hƣớng dẫn sử dụng đất và rừng đối với hộ nhận khoán còn chƣa đúng mức, mức hƣởng lợi từ hoạt động bảo vệ rừng 13 còn thấp nên một số hộ nhận khoán chƣa thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của bên nhận khoán. Hình thức tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại KBT Hiện nay rừng và đất rừng đƣợc Ban quản lý KBTTN Bát Đại Sơn giao khoán quản lý bảo vệ cho các hộ gia đình tại các xã vùng đệm.

Mặc dù, thu nhập từ việc tham gia hoạt động này còn thấp song cũng đã phần nào giúp ngƣời dân địa phƣơng khẳng định đƣợc vai trò, trách nhiệm đối với công tác “giữ rừng”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ