Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn thuộc tỉnh Hà Giang sở hữu diện tích tự nhiên vùng lõi đạt 5.039,4 ha, giữ tỷ lệ độ che phủ rừng ở mức 84,3%. Nơi đây lưu giữ hệ sinh thái núi đá vôi độc đáo với 708 loài thực vật có mạch và 198 loài động vật có xương sống, trong đó có 75 loài thực vật và 35 loài động vật thuộc danh mục quý hiếm, nguy cấp. Mặc dù sở hữu giá trị đa dạng sinh học đặc hữu, khu bảo tồn đang chịu sức ép nghiêm trọng từ các hoạt động nhân sinh của cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm trong. Thực trạng đời sống của người dân địa phương còn nhiều thiếu thốn khi tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vượt mức 63%, dẫn đến sự phụ thuộc nặng nề vào việc khai thác tài nguyên rừng để duy trì sinh kế hàng ngày.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện các hình thức và mức độ tác động bất lợi của cộng đồng vùng đệm trong đến tài nguyên rừng, phân tích các nguyên nhân kinh tế - xã hội cốt lõi, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đa dạng sinh học dựa trên sự tham gia của người dân bản địa. Không gian nghiên cứu tập trung chuyên sâu tại 03 thôn vùng lõi gồm Xà Phìn, Pải Chư Phìn và Thào Chư Phìn thuộc xã Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, đại diện cho 148 hộ gia đình với 871 nhân khẩu. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp Ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền địa phương hoàn thiện phương án phân vùng quản lý, cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn 5.039,4 ha rừng đặc dụng với chiến lược nâng cao sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hệ thống trong lâm nghiệp để phân tích mối tương tác giữa hệ sinh thái tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội của cộng đồng bản địa. Theo khung lý thuyết này, rừng đặc dụng là một hệ thống mở hoàn chỉnh, nơi mọi can thiệp kinh tế của con người đều tác động trực tiếp đến chu trình sinh học và cấu trúc tổ thành loài. Đồng thời, đề tài áp dụng mô hình Tháp sinh thái - nhân văn với bốn bậc cấu trúc gồm bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức. Mô hình làm sáng tỏ mối quan hệ nghịch chiều giữa mức độ phát triển kinh tế vùng đệm và cường độ xâm hại tài nguyên rừng tự nhiên.

Bên cạnh đó, quan điểm bảo tồn gắn liền với phát triển và lý thuyết quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng đóng vai trò định hướng giải pháp. Nghiên cứu sử dụng thang đo mức độ tham gia bảy bậc, trong đó xác định sự tham gia của người dân vùng đệm trong ở mức độ tham vấn và đồng thuận hành động. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm:

  • Cộng đồng dân cư thôn bản theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
  • Vùng đệm trong theo Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT quy định về diện tích nằm trong ranh giới khu rừng đặc dụng có dân cư sinh sống hợp pháp.
  • Đa dạng sinh học và các hình thức đồng quản lý rừng đặc dụng bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo diễn biến rừng, quy hoạch bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn giai đoạn đến năm 2020 và niên giám thống kê huyện Quản Bạ. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập tại thực địa thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 120 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống trên tổng số 148 hộ tại 03 thôn điểm, phân tầng theo 03 nhóm kinh tế hộ (nghèo, trung bình, khá) và 02 thành phần dân tộc chính (H'Mông chiếm 73,0%, Dao chiếm 27,0%).

Phương pháp điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn sâu bán định hướng đối với 120 chủ hộ, 06 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý khu bảo tồn và tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm (quy mô 7 đến 9 người mỗi nhóm). Dữ liệu định lượng thu thập được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 cùng Microsoft Excel nhằm phân tích thống kê mô tả, tần suất và hồi quy tương quan giữa thu nhập hộ với mức độ xâm hại rừng. Lý do lựa chọn hệ công cụ này nhằm đảm bảo tính lượng hóa chính xác các biến số kinh tế - xã hội. Đồng thời, kỹ thuật phân tích ma trận SWOT được áp dụng để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác quản lý tài nguyên tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bốn nhóm tác động bất lợi chính từ cộng đồng vùng đệm trong đến nguồn tài nguyên đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn:

  • Xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và phát triển cây thương mại: Hiện trạng canh tác nông nghiệp bên trong khu bảo tồn chiếm 85,37 ha. Toàn khu vực vùng đệm có 273,0 ha diện tích trồng thảo quả dưới tán rừng tự nhiên, trong đó riêng 03 thôn nghiên cứu chiếm 69,2 ha, làm biến đổi tầng cây bụi tái sinh và cản trở quá trình phục hồi rừng tự nhiên.
  • Tập quán chăn thả gia súc tự do trong rừng: Tổng đàn gia súc tại 04 xã vùng đệm đạt 21.748 con, bao gồm 13.680 con lợn, 1.225 con trâu, 342 con ngựa và 1.262 con dê. Việc thả rông gia súc không chuồng trại đã dẫm đạp làm gãy chết cây con tái sinh, làm nén chặt đất và gây xói mòn nghiêm trọng trên các sườn dốc đá vôi.
  • Khai thác gỗ, củi và lâm sản ngoài gỗ không kiểm soát: 100% số hộ gia đình được phỏng vấn sử dụng củi từ rừng tự nhiên làm chất đốt sinh hoạt chính. Hoạt động khai thác gỗ phục vụ nhu cầu làm nhà ở và thu hái trái phép các loài cây dược liệu quý diễn ra thường xuyên vào các tháng nông nhàn.
  • Năng lực quản lý bảo vệ rừng còn nhiều bất cập: Ban quản lý khu bảo tồn chỉ có 06 cán bộ chịu trách nhiệm quản trị 5.039,4 ha rừng địa hình hiểm trở. Nguồn kinh phí chi trả khoán bảo vệ rừng còn thấp, chưa tạo được động lực kinh tế đủ mạnh để 148 hộ dân vùng đệm trong tích cực tham gia tuần tra giữ rừng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh rõ nét mối liên hệ nhân quả giữa tình trạng nghèo đói và áp lực lên đa dạng sinh học. Tại 04 xã vùng đệm, lao động nông - lâm nghiệp chiếm 93,3% tổng lực lượng lao động xã hội, trong khi diện tích đất canh tác bình quân rất hạn hẹp. Khi tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở mức trên 63%, người dân buộc phải dựa vào việc khai thác tài nguyên rừng để bù đắp thâm hụt lương thực và chi tiêu tiền mặt.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua biểu đồ phân bố số vụ vi phạm theo từng phân khu chức năng, biểu đồ cơ cấu nguồn thu nhập của 120 hộ gia đình và bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp. So sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal và mô hình đồng quản lý tại Vườn quốc gia Kakadu của Australia, nghiên cứu tại Bát Đại Sơn khẳng định các biện pháp ngăn cấm hành chính đơn thuần sẽ không mang lại hiệu quả nếu tách rời quyền lợi sinh kế của người dân bản địa. Việc kết hợp tri thức địa phương của người H'Mông và người Dao vào công tác bảo tồn chính là chìa khóa để giảm thiểu xung đột tài nguyên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu xây dựng bốn nhóm giải pháp đồng bộ nhằm giảm thiểu áp lực lên khu bảo tồn và phát triển sinh kế bền vững:

  • Hoàn thiện cơ chế giao khoán quản lý bảo vệ rừng: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn cần rà soát và thực hiện giao khoán bảo vệ toàn bộ 4.170,57 ha rừng tự nhiên cho 148 hộ gia đình tại 03 thôn vùng đệm trong. Cần áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng minh bạch, phấn đấu nâng mức thu nhập từ nhận khoán rừng lên 15-20% trong tổng thu nhập hộ gia đình giai đoạn 2019-2022.
  • Chuyển đổi mô hình sản xuất nông - lâm kết hợp: Ủy ban nhân dân huyện Quản Bạ chủ trì quy hoạch cố định diện tích 69,2 ha trồng thảo quả hiện có, nghiêm cấm mở rộng diện tích mới dưới tán rừng nguyên sinh. Hướng dẫn kỹ thuật nuôi nhốt gia súc có chuồng trại, hỗ trợ giống cỏ chăn nuôi để từng bước chấm dứt việc thả rông đàn đại gia súc 21.748 con trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt từ năm 2019 đến năm 2023.
  • Nâng cao năng lực tuần tra và thành lập tổ bảo vệ rừng cộng đồng: Kiện toàn 03 tổ tuần tra tự quản tại thôn Xà Phìn, Pải Chư Phìn và Thào Chư Phìn. Trang bị đầy đủ thiết bị đi rừng, tập huấn kỹ năng giám sát đa dạng sinh học cho 491 lao động nòng cốt, kết nối chặt chẽ giữa 06 cán bộ kiểm lâm khu bảo tồn với chính quyền xã Bát Đại Sơn trong giai đoạn 2019-2021.
  • Đẩy mạnh truyền thông và thể chế hóa hương ước thôn bản: Tổ chức định kỳ tối thiểu 12 buổi tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng mỗi năm tại các điểm trường và nhà văn hóa thôn. Lồng ghép các điều khoản bảo vệ 75 loài thực vật và 35 loài động vật quý hiếm vào quy ước thôn bản bằng tiếng H'Mông và tiếng Dao, hoàn thành trong giai đoạn 2019-2020 do Hạt Kiểm lâm Quản Bạ phối hợp thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Luận văn cung cấp khung phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) và bộ công cụ đánh giá áp lực sinh kế, hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng phương án quản lý bền vững tại hơn 5.000 ha rừng đặc dụng địa hình karst núi đá vôi.
  • Cơ quan hoạch định chính sách lâm nghiệp và chính quyền địa phương: Chi cục Kiểm lâm các tỉnh miền núi phía Bắc và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể sử dụng các số liệu thực chứng để thiết kế chính sách hỗ trợ phát triển vùng đệm, hoàn thiện định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về việc ứng dụng Tháp sinh thái - nhân văn của Park kết hợp phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS 16.0 để giải quyết bài toán xung đột tài nguyên.
  • Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên phi chính phủ (IUCN, WWF, UNDP): Báo cáo cung cấp cơ sở dữ liệu chi tiết về hiện trạng sinh cảnh của 30 loài thuộc Sách đỏ IUCN và hiện trạng kinh tế của 148 hộ dân vùng đệm trong, hỗ trợ xây dựng các dự án tài trợ sinh kế gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

  • Khái niệm vùng đệm trong được xác định như thế nào trong luận văn? Vùng đệm trong được xác định theo Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT là diện tích nằm bên trong ranh giới khu bảo tồn nơi có cộng đồng dân cư sinh sống hợp pháp từ lâu đời, cụ thể là 148 hộ dân tại 03 thôn Xà Phìn, Pải Chư Phìn và Thào Chư Phìn.

  • Vì sao chăn thả gia súc tự do lại đe dọa nghiêm trọng đến đa dạng sinh học Bát Đại Sơn? Với tổng đàn 21.748 con chăn thả tự do trong rừng, trâu bò dẫm đạp làm gãy chết cây tái sinh tự nhiên, cạnh tranh thức ăn với thú hoang dã móng guốc và tạo nên các rãnh xói mòn nghiêm trọng trên nền đất dốc núi đá vôi.

  • Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu điều tra hộ gia đình như thế nào? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống để khảo sát 120 hộ gia đình trên tổng số 148 hộ, đảm bảo đại diện đầy đủ cho 02 thành phần dân tộc (H'Mông, Dao) và 03 nhóm kinh tế hộ (nghèo, trung bình, khá).

  • Áp lực lớn nhất đối với hệ thực vật quý hiếm tại khu bảo tồn là gì? Áp lực lớn nhất là việc mở rộng 273,0 ha diện tích trồng thảo quả dưới tán rừng và tình trạng khai thác củi đun của 100% hộ dân, gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của 75 loài thực vật nguy cấp.

  • Giải pháp căn cơ nào giúp người dân giảm phụ thuộc vào tài nguyên rừng? Giải pháp then chốt là hoàn thiện chính sách giao khoán 4.170,57 ha rừng tự nhiên gắn với nâng cao mức chi trả môi trường rừng, kết hợp chuyển đổi tập quán chăn thả sang nuôi nhốt có chuồng trại để đảm bảo nguồn thu nhập ổn định.

Kết luận

  • Luận văn cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện về áp lực sinh kế của 148 hộ gia đình vùng đệm trong đối với 5.039,4 ha rừng đặc dụng Bát Đại Sơn.
  • Phân tích rõ nét mối tương quan giữa tỷ lệ hộ nghèo trên 63% với các hoạt động khai thác lâm sản, chăn thả đại gia súc và trồng thảo quả dưới tán rừng.
  • Ứng dụng thành công Tháp sinh thái - nhân văn và phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA) vào nghiên cứu lâm nghiệp xã hội.
  • Đề xuất hệ thống 04 nhóm giải pháp kinh tế - xã hội đồng bộ với lộ trình thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2019-2023.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về định lượng giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái rừng nhằm hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích giữa khu bảo tồn và cộng đồng bản địa.