CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ I. Những khái niệm cơ bản về đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm chung về đô thị và đô thị hóa Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội, 1995).
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị (Giáo trình quy hoạch đô thị, ĐH kiến trúc, Hà Nội). Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc huyện (Thông tư số 31/TTLD, ngày 20/11/1990). “Sự tồn tại của đô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa độc lập với nhau, ở đây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành. Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó” ( C.Enghels, quyển 46, phần I) Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế- xã hội, hệ thống dân cư.
Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song, phần nhiều đều thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản: - Quy mô mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ trên 3000 người/ km2. Đây là những chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của một đô thị được xác định trên cơ sở dân số nội thị và diện tích xây dựng trong giới hạn nôi thị của đô thị. - Cơ cấu lao động: Trên 60% lao động phi nông nghiệp 4 Như vậy, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn có số dân từ 2000 người trở lên và trong đó trên 60% số dân phi nông nghiệp.
Lao động phi nông nghiệp bao gồm: - Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. - Lao động xây dựng cơ bản. - Lao động giao thông vận tải bưu điện, tín dụng, ngân hàng. - Lao động thương nghiệp, dịch vụ, du lịch.
- Lao động trong các cơ quan hành chính văn hóa, giáo dục, y tế, phục vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật. - Các lao động khác không phải sản xuất nông nghiệp. Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thập hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm của nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên CNXH.
Và cũng thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong điều kiện cụ thể nước ta. Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt như về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,. Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng, một tỉnh có thể cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc. Do đó việc xác định một trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị trong một vùng lãnh thổ cụ thể.
Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò và chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như công nghiệp, cảng, du lịch, đầu mối giao thông. Hiện nay, người ta bổ sung thêm một tiêu chuẩn nữa là cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: Là đô thị, cơ sở hạ tầng có thể hoàn chỉnh, đồng bộ hoặc chưa hoàn chỉnh, chưa 5 đồng bộ nhưng phải có một quy hoạch chung cho tương lại. Yếu tố này phản ánh trình độ phát triển, mức tiện nghi sinh hoạt của người dân đô thị và được xác định theo những chỉ tiêu cơ bản như: Chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt, chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt, mật độ đường phố, đặc điểm giao thông, tầng cao trung bình. Đô thị hóa chưa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, vì vậy có thể nêu khái niệm dưới nhiều góc độ.
Trên quan điểm xã hội, Đô thị hóa là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kì quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mưới mà biểu hiện tập trung là sự thay đổi cơ cấu dân số, cơ cấu lao động. Trên quan điểm phát triển một vùng, đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị. Điểm nổi bật của nó là sự đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật.
Là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…) Thực chất đó là tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững. Trên quan điểm nên kinh tế quốc dân: đô thị hóa là một quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu. Đó cũng chính là quá trình tăng mật độ dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình độ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tăng vai trò thúc đẩy trong khu vực. Điểm nổi bật của vấn đề là sự đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, và cơ sở hạ tầng.
Tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn. Trong thực tế có những khi đô thị hóa mang tính giả tạo: là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến đặc biệt là từ nông 6 thôn, dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuộc sống. Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành hệ thống các đô thị. Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế- xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ do vậy đô thị hóa gắn liền với chế độ kinh tế xã hội.
Đô thị hóa là kết quả của sự biến đổi tổng hợp nhiều yếu tố và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhua, vì vậy có thể nêu khái niệm dưới nhiều góc độ. Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp hay công nghiệp hóa là cơ sở của đô thị hóa. Đô thị hóa trên thế giới bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp. Sau đó là cách mạng công nghiệp là sự thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao động cao hơn và sự thay đổi về cơ cấu lao động xã hội trên cơ sở phân công lao động xã hội.
Đồng thời cách mạng công nghiệp đã tập trung hóa lực lượng sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mà tượng trưng cho nó là những cố máy vi tính, những siêu sa lộ thông tin, và điện thoại di động,. thì đô thị hóa có tiền đề vững chắc hơn và tốc độ đô thị hóa đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tóm lại đô thị hóa là quá trình phưc tạp có thể định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau.
Một cách tổng quát: đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lựng lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở, hiện đại hóa cơ sở vật chất kĩ thuật và tăng quy mô mật độ dân số. Về bản chất: đô thị hóa là quá trình phát triển lực lượng sản xuất và sự đổi mới về quan hệ sản xuất mà nguồn gốc là sự phát triển khoa học kỹ thuật. 7 Phương hướng và điệu kiện phát triển của quá trình đô thị hóa phụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đó là sự biểu hiện cụ thể của sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản sản xuất.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất với khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, được biểu hiện thành các nội dung cụ thể là công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung sản xuất dẫn tới sự hình thành lối sống mới văn minh hơn của các vùng đã và đang hoặc chưa phải đô thị hóa là điều tất yếu của quá trình phát triển. Sự định hướng, tạo điều kiện và khai thác các yếu tố tích cực là biểu hiện nhận thức của các nhà lãnh đạo và quản lý. Chính vì những lẽ đó, có thể coi đô thi hóa là một hiện tượng tất yếu khách quan theo tiến trình phát triển của lịch sử. Ở các nước phát triển, đô thị hóa đặc trưng cho sự phát triển các nhân tố chiều sâu (điều tiết và khai thác tối đa các lợi ích, hạn chế bất lợi của quá trình đô thị hóa).
Đô thị hóa nâng cao điều kiên sống và làm việc, nâng cao dân chủ và công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách thành thị và nông thôn. Ở các nước đang phát triển, đô thị hóa đặc trưng cho sự bùng nổ về dân số và sự phát triển công nghiệp. Cùng với sự yếu kiếm của công tác quản lý đô thị thì đô thị hóa ở các nước đang hoặc kém phát triển là sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển kinh tế. Những vấn đề đô thị như giao thông, môi trường nảy sinh và không thể giải quyết một sớm một chiều.