CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm chính sách công Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững ổn định. Khái niệm thực hiện chính sách công Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quả trình chuyên hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.
Khái niệm về quản lý trật tự xây dựng đô thị Khái niệm về trật tự đô thị Đô thị được hiểu là một trung tâm có dân cư đông đúc và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là khu vực có mật độ gia tăng cá công trình kiến trúc do con người xây dựng, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một vùng lãnh thổ hoặc một quốc gia, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Trật tự xây dựng đô thị là các công trình xây đảm bảo đúng nội dung Giấy phép xây dựng đã được cấp, phù hợp quy hoạch chung đã được phê duyệt và xây dựng không ảnh hưởng đến công trình lân cận [13]. 13 Khái niệm về quản lý nhà nước Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Mỗi ngành khoa học đều đưa ra góc nhìn riêng của mình về khái niệm riêng về quản lý.
Thông thường và phổ biến có thể hiểu quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã đề ra. Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống, căn cứ vào đúng những nguyên tắc tương ứng để hệ thống ấy vận hành theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước. Với khái niệm trên, quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và khách thể quản lý. - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ta các tác động quản lý.
Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. - Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý. - Khách thể quản lý là sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là các hành vi của con người các quá trình xã hội. Quản lý ra đời nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong công việc.
Quản lý con người, quản lý xã hội theo định hướng đã được đề ra nhằm phát huy cao nhất khả năng của con người, ổn định phát triển xã hội. Mục đích quản lý cái mục đích do chủ thể quản lý đề ra và đây là căn cứ để chủ thể quản lý tác động quản lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội. - Quản lý nhà nước Khi Nhà nước xuất hiện thì hầu hết các công việc, quan hệ của xã hội đều do Nhà nước quản lý. Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
14 Theo quan điểm của GS.Atamantrruc (2004) “Quản lý nhà nước là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước”. Trường cán bộ thanh tra (2009) Giáo trình một số vấn đề về quản lý nhà nước thì “Quản lý nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”. Có thể nói quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền hạn Nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối ngoại, đối nội của nhà nước. Quản lý nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện rất nhiều lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, xây dựng, an ninh quốc phòng.
Khái niệm về quản lý trật tự đô thị Bằng những quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể của đô thị nói riêng và của nhà nước nói chung, mọi hoạt động xây dựng trong đô thị phải thực hiện đúng trật tự, đúng quy định quy chuẩn cụ thể mà cơ quản quản lý nhà nước đề ra. Hay nói cách khác, quản lý trật tự xây dựng đô thị cũng là việc đi kiểm tra. Những công trình xây dựng trên địa bàn không đúng nội dung GPXD, đúng quy hoạch kiến trúc đã phê duyệt, không có GPXD và các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật. - Quản lý về trật tự xây dựng đô thị là hoạt động quy hoạch, cấp phép, kiểm tra, thanh tra, đề xuất, kiến nghị và xử lý vi phạm theo đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến trật tự xây xựng nhằm đảm bảo tất cả tổ chức cá nhân đều xây dựng công trình đô thị phù hợp 15 với quy hoạch tổng thể và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng.
Giữ gìn và phát triển mỹ quan đô thị theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt. Bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của nhân dân, chấm dứt lấn chiếm đất công, sử dụng đất không đúng mục đích, xây dựng không phép, sai phép. - Theo Nghị định 180/NĐ-CP thì Quản lý trật tự xây dựng đô thị là hoạt động thanh tra kiểm tra của cơ quan Nhà nước dùng quyền lực Nhà nước nhằm duy trì, đảm bảo trật tự xây dựng [13]. Tóm lại có thể định nghĩa Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị là sự tác động có tính tổ chức, quyền lực của Nhà nước theo cơ sở pháp luật, của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm bảo đảm trật tự trong xây dựng đô thị.
Như vậy, quản lý trật tự xây dựng đô thị bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và khách thể thể quản lý. - Chủ thể quản lý trật tự xây dựng đô thị: là các cơ quan hành chính Nhà nước, các cán bộ, công chức được trao quyền quản lý trật tự xây dựng đô thị do pháp luật quy định. - Đối tượng quản lý trật tự xây dựng đô thị: các chủ đầu tư xây dựng công trình trong đô thị. - Khách thể quản lý trật tự xây dựng đô thị là những hoạt động quản lý trật tự đô thị và hành vi vi phạm trong hoạt động xây dựng công trình trong đô thị.
Một số khái niệm khác Các khái niệm có liên quan trong quản lý trật tự xây dựng đô thị gồm: - Quy hoạch đô thị chung xây dựng đô thị Tại Điều 14, Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ quy định nhiệm vụ của quy hoạch chung đô thị: Xác định tính chất của đô thị, quy mô dân số đô thị, định hướng phát 16 triển không gian đô thị và các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong đô thị theo các giai đoạn 05 năm, 10 năm và dự báo hướng phát triển của đô thị đến 20 năm. Đối với quy hoạch chung xây dựng cải tạo đô thị, ngoài các nội dung trên này còn phải xác định những khu vực phải giải toả, những khu vực được giữ lại để chỉnh trang, những khu vực phải được bảo vệ và những yêu cầu cụ thể khác theo đặc điểm của từng đô thị. - Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong các vùng lãnh thổ đó.
Đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. - Quy hoạch đô thị là việc tổ chức hệ công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nhà ở đảm bảo không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị, để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch. - Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung. - Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị.
Yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất, bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hóa nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung. Cụ thể hóa nội dung của quy hoạch chung xây dựng đô thị là cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng công trình, cung cấp thông tin, cấp GPXD công trình 17 giao đất, cho thuê đất để triển khai các dự án xây dựng công trình. - Thiết kế đô thị là việc cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị về kiến trúc các công trình trong đô thị, cảnh quan cho từng khu chức năng, tuyến phố và khu không gian công cộng khác trong khu đô thị. - Chỉ giới đường đỏ là đường ranh giới phân định giữa phần lô đất để xây dựng công trình và phần đất được dành cho đường giao thông hoặc các công trình kỹ thuật hạ tầng.
- Ban công là các mặt sàn chịu lực được làm nhô ra khỏi mặt nhà, tạo điều kiện để người sử dụng có thể tiếp cận dễ dàng với không gian thoáng bên ngoài, tiếp cận cây xanh, tạo tầm nhìn rộng.