CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Thực hiện chính sách công –một công đoạn cơ bản trong chu trình chính sách công ở Việt Nam 1.1 Chính sách công và chu trình chính sách công 1. Quan niệm về chính sách công Chính sách-là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phương tiện truyền.thông và trong đời sống-xã hội. Cho đến nay, đây cũng là khái niệm còn gây nhiều tranh cãi do có nhiều cách tiếp cận.
Ở Việt Nam, ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời đã họp phiên đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa. Tại phiên họp này, Chính phủ đã thảo luận và tán thành 6 vấn đề cấp bách do Chủ tịch nêu ra là: 1- Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói, mở ngay cuộc lạc quyên gạo để giúp đỡ người nghèo. 2- Mở chiến dịch chống nạn mù chữ. 3- Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ.
4- Mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ thói hư tật xấu của chế độ thực dân để lại. 5- Bỏ ngay các thuế, như: thuế thân; thuế chợ; thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuốc phiện. 6- Ra tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo. Đặt trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ, có thể xem đây là mẫu mực của việc xác định những vấn đề cấp bách để hoạch định và thực thi chính sách của nhà nước – chính sách công – chính sách để giải quyết những nhu cầu lợi ích thiết thực của quốc dân, đồng bào sau khi chính quyền mới được thành lập.
Như vậy, tiếp cận từ góc độ chủ thể ban hành và sử dụng chính sách để phục vụ và quản lý xã hội có thể thấy: Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của 8 nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội. Chính sách của nhà nước đã tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên phạm vi toàn quốc. Chính sách khi gắn với vai trò, chức năng “lo cho cái chung” hay “khu vực công” của nhà nước được gọi là chính sách công (Public policy). Tích hợp những cách tiếp cận, cách hiểu, cách định nghĩa đã có, trong luận văn này chúng tôi thống nhất cách quan niệm: Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định.
Khái niệm trên thể hiện đặc trưng của chính sách công là: Do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định. Là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong.việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội; Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết chính sách đó phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là chính sách phải thể hiện được vai trò định hướng hành động theo những mục tiêu nhất định; Điều kiện tồn tại của một CSC là tổng hoà những tác động tích cực của hệ thống thể chế do nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện, tự chủ, sáng tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định; Điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại được thể hiện bằng các nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, môi trường chính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả sự bảo đảm bằng nhà nước. Chu trình chính sách công Chu trình chính sách (Policy cycle), hay còn được gọi là quy trình hoạch định chính sách (Policy making process), hoặc quy trình chính sách, là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề CSC.đến khi kết quả của CSC được đánh giá. 9 Khoa học chính sách hiện tại chưa xác định được quy trình hoạch định.chính sách thống nhất, kiểu mẫu.Điều này có thể lý giải bởi sự khác biệt về thể chế chính trị và cách thức tổ chức quyền lực.nhà nước giữa các quốc gia.
Việc nhận thức khái quát về một quy trình logic với các giai đoạn của nó đóng vai trò quan trọng, làm cơ sở cho việc tiếp cận nghiên cứu và thực hành chính sách.Lasswell đã chia quá trình chính sách công thành 7 giai đoạn: (1) Thu thập thông tin; (2) Đề xuất; (3) Ra quyết định; (4) Hướng dẫn; (5) Áp dụng; (6) Kết thúc; (7) Đánh giá. 7 giai đoạn này không chỉ mô tả các chính sách công thực sự được hình thành như thế nào mà còn mô tả các bước tạo ra chúng. Quá trình CSC bắt đầu với việc thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp và truyền bá thông tin cho những người sẽ tham gia vào quá trình hoạch định và ban hành CSC. Tiếp đó những người tham gia vào việc ra quyết sách đề xuất các phương án cụ thể.
Trong giai đoạn kế tiếp, những người ra quyết định thực sự ban hành đường lối hành động. Sang giai đoạn triển khai thực hiện CSC, một tập hợp các chế tài được thiết lập để cưỡng chế những người nào không tuân theo quy định của nhà nước. Sau đó, CSC được duy trì bởi bộ máy hành chính và vận hành theo định hướng cho đến khi hoàn thành sứ mệnh, hoặc bị hủy bỏ. Cuối cùng, các kết quả mang lại của CSC được đánh giá theo mục tiêu của chủ thể ban hành CSC ban đầu.
Mô hình của Harold.Lasswell đã tạo cơ sở cho sự phát triển các mô hình về chu trình CSC của Gary D.Brewer vào đầu những năm 1970 và mô hình khá nổi tiếng của Charles O.Jones và James Anderson vào những năm 1970 và 1980. Chu trình CSC theo mô hình này gồm 5 giai đoạn: (1) Lập chương trình (Agenda setting): Các cá nhân và tổ chức, cơ quan chức năng tham gia làm chính sách trình vấn đề công ra thảo luận, và xem xét đưa vào chương trình chính thức. Trên thực tế, có những vấn đề chính sách dễ dàng mở “cánh cửa cơ hội” xuất hiện trong chương trình nghị sự; trong khi nhiều vấn đề khác lại bị trì hoãn lâu dài. (2) Hình thành chính sách (Policy formulation, bao gồm việc thiết kế chính sách – policy design): Chính thức đề xuất các phương án (biện pháp thay thế) nhằm mục tiêu giải quyết vấn đề chính sách.
Giải pháp thay thế trong các đề xuất chính 10 sách có thể thể hiện dưới dạng dự thảo các quy định pháp lý của chính phủ, tòa án hoặc dự luật của Quốc hội. Nói chung, chính sách có thể được thông qua bởi Quốc hội, Chính phủ và Tòa án trong phạm vi luật định. (4) Thực hiện chính sách (Policy implementation):Cơ quan hành pháp huy động các nguồn lực triển khai thực hiện khi CSC được thông qua. Đây là giai đoạn quan trọng mà CSC tác động đến xã hội với mục đích đạt được các mục tiêu nhà nước đề ra; và cũng có thể dẫn tới những tác động không như dự đoán, thậm chí kết quả có thể không đúng với dự đoán phân tích ban đầu.
(5) Đánh giá chính sách (Policy evaluation): Là giai đoạn xem xét các cơ quan thực hiện chính;sách có đáp ứng yêu cầu, tuân thủ quy định pháp lý và đạt được các mục tiêu của chính sách không. Vì vậy, các đơn vị chức năng liên quan cần thực hiện thanh tra, kiểm toán để đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính đối với cơ quan thực hiện chính sách đó. Theo nghĩa này thì đánh giá chính sách là một giai đoạn trong quy trình chính sách. Có thể nói, đánh giá chính sách là một phương pháp sử dụng các công cụ phân tích để nghiên cứu, phân tích chính sách [14].
Ở Việt Nam, hiện tại cũng tồn tại nhiều cách phân loại quy trình chính sách khác nhau. Chẳng hạn, theo cách phân loại đơn giản nhất, nhưng có tính tổng hợp nhất, chu trình CSC có thể chia thành 3 công đoạn, giai đoạn chính: (1). Hoạch định chính sách công. Đây là giai đoạn, xây dựng phương án chinh sách và ra quyết định chinh sách công.Để hoàn thành giai đoạn này, các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ phân tích thực trang,để xác định vấn đề CSC, từ đó đưa ra việc kiến nghị, phương pháp để giải quyết vấn đề vào chương trình nghị sự sau đó ban hành CSC nếu chính sách được thông qua.
Khi thực hiện xác định.vấn đề chính sách ngoài các cơ quan nhà nước,thực hiện;mà phải mở rộng các đối tượng, chủ thể để có sự tham gia rộng rãi của mọi tầng lớp xã;hội, đặc biet là của nhân dan, các tổ chức chính trị - xã hội, như: Mật trận,Tổ quốc và các tổ chức,thành viên của Mật trận. Nội dung,quan trọng,của giai đoạn hoạch định CSC là: cần phải xác định 11 đúng mục tiêu chinh sách, sau đó xây dựng hoặc đề xuất các các giải pháp để đạt các mục,tiêu đó. Để làm việc này,;các chủ thể của chính sách phải đánh giá đúng tác động của các giải phap, đồng thời phải so sánh, dự đoán các kết quả các giải pháp với nhau; từ đó làm cơ sở để đề xuất để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định để cuối cùng. Tổ chức thực hiện chính sách công.
Là giai đoạn hiện thực,hóa,chính sách trong đời sống xã/hội.Đây là giai đoạn triển khai thực hiện các giải pháp của chính,sách đã được thông qua và kiểm tra quá trình của việc thực hiện.Sự thành, bại của một chính sách là nằm ở giai đoạn này. Đánh giá chính sách công. Đây là công đoạn tính toán, dự trù các chi phí và kết quả của việc thực hiện chính sách; các tác động từ thực tế của việc thực hiện chính sách trong quá trình nhằm đạt được mục tiêu CSC, từ đó xác định hiệu quả của một CSC trong thực tế. Trên cơ sở kết quả của đánh giá CSC, các cơ quan này.có thể chấm dứt sự tồn tại của,CSC; hoặc có thể bổ sung mục tiêu, điều chỉnh các giải-pháp cho phù hợp với tình hình thực tế.
Mô hình hoá chu trình chính sách công theo cách phân loại trên Hoạch định chính sách công Phân tích chính sách công Đánh giá chính Thực thi chính sách công sách công 12 Lưu ý: Phân tích CSC không phải là một giai đoạn độc lập của chu trình CSC, mà là một hoạt động gắn kết với các giai đoạn của chu trình CSC. Đây là hoạt động cơ bản làm nền tảng ra quyết định cho các chủ thể hoạch định, thực thi CSC.