Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. Khái niệm quản lý trật tự đô thị ô thị: là điểm tập trung dân cư với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện ho c của một vùng trong tỉnh, trong huyện. Trật tự đô thị: là sự ổn định, sự sắp xếp theo một thứ tự, một quy tắc nhất định ở nơi dân cư đông đúc; nói cách khác, trật tự đô thị là sự sắp xếp ổn định của một địa phương về cơ sở hạ tầng thích hợp, về chuyên ngành …góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương. Quản lý trật tự đô thị: là việc lập chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trân các lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng, quản lý nhà và công trình kỹ thuật, công tác vệ sinh môi trường, trật tự an toàn giao thông và trật tự đô thị của địa phương.
ô thị không những là nơi tiêu biểu cho sự phát triển, thịnh vượng và văn minh của mỗi quốc gia mà còn là trung tâm truyền bá văn minh, là đầu tàu thúc đẩy các vùng xung quanh phát triển, được cấu thành từ 2 yếu tố: - Các yếu tố không gian vật chất: Bao gồm cơ cấu quy hoạch, kiến trúc, môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo. - Các yếu tố kinh tế xã hội: Bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất, lực lượng sản xuất, cơ cấu ngành, nhân khẩu - xã hội, lối sống, … của dân cư đô thị. Ở Việt Nam, theo Quyết định số 132/ H BT ngày 05/5/1990 quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản gồm: - Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định. - Quy mô dân số nhỏ nhất là 4.
6 - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm ít nhất 60 % tổng số lao động của đô thị đó, là nơi sản xuất hàng hoá, thương nghiệp và dịch vụ phát triển. - Có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ đời sống dân cư đô thị. - Mật độ dân cư được xác định tuỳ theo từng loại đô thị, phù hợp với đ c điểm của từng vùng. Trong đô thị luôn tồn tại các nhu cầu ăn ở, làm việc, đi lại, vui chơi,.
và theo xu hướng đô thị hoá toàn cầu, các nhu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn, phức tạp hơn, luôn luôn phát sinh những vấn đề mới. ể đáp ứng các nhu cầu đó buộc chính quyền đô thị phải tổ chức xã hội một cách khoa học và việc quản lý hoạt động của đô thị phải trở thành một yêu cầu tất yếu. Chính vì vậy công tác quản lý đô thị là khâu quyết định cho việc thực hiện những định hướng phát triển đô thị nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong một xã hội đô thị hoá với tốc độ khá cao. Nó cũng trở thành một chủ đề rất quan trọng đối với các chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế trên thế giới.
Quản lý đô thị là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có mục đích bằng một hệ thống các chủ trương, cơ chế, chính sách của các chủ thể quản lý đô thị (các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các sở, ban ngành chức năng) vào các hoạt động đô thị nhằm sử dụng, đảm bảo phát huy tiềm năng và tận dụng thời cơ của đô thị, tạo điều kiện, môi trường và điều tiết, kiểm soát quá trình xây dựng, phát triển đô thị nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội mà đô thị đã đề ra. Quá trình hình thành và phát triển các đô thị đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với đô thị, vì vậy trên góc độ Nhà nước, quản lý nhà nước đối với đô thị là sự can thiệp bằng quyền lực của mình (bằng pháp luật, thông qua pháp luật) vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị nhằm phát triển đô thị theo định hướng nhất định, để nó hoạt động trong một trật tự nhất định. Mục đích, vai trò, nội dung của quản lý nhà nước về trật tự đô thị - Mục đích quản lý nhà nước về trật tự đô thị 7 ô thị là đầu mối thực hiện các chức năng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tỷ lệ tăng trưởng đô thị là một tiêu chí mà chính quyền nhà nước rất quan tâm, quản lý sự tăng trưởng là một công việc quan trọng của công tác quản lý đô thị. Chính vì vậy mục đích đầu tiên của công tác quản lý nhà nước về đô thị là làm chủ được quá trình tăng trưởng và nghiên cứu tỷ lệ tăng trưởng của đô thị.
ể quản lý sự tăng trưởng đô thị các nhà quản lý phải điều phối các hoạt động của đô thị. Một đô thị phát triển bền vững là một đô thị có sự phát triển hài hoà giữa các thành phần và các giai đoạn phát triển.Trong quá trình tổ chức, xây dựng và phát triển đô thị, quản lý nhà nước về đô thị đề ra những mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn buộc các nhà quản lý đô thị phải có nhiệm vụ đề ra được các hoạch định và lập kế hoạch phát triển tổng thể. iều tiết sự phát triển cho phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển của lịch sử sản xuất, tập trung xây dựng cơ sở kinh tế kỹ thuật vững chắc vì mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninh quốc gia và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ mỹ quan đô thị. - Vai trò của quản lý nhà nước về trật tự đô thị Công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị được thực hiện tốt sẽ làm đô thị ổn định và phát triển bền vững, nâng cao tính hiệu quả và tính hợp lý trong việc sử dụng các nguồn tài chính, nguồn nhân lực và nguồn kỹ thuật của đô thị.
Chương trình quản lý nhà nước về trật tự đô thị là một chất xúc tác quan trọng cho sự phát triển ngay trong mạng lưới đô thị của một vùng, một nước và toàn cầu. Thông thường các nhà kinh tế thường quan tâm đến lợi nhuận mà bỏ qua ho c coi nhẹ vấn đề môi trường, các vấn đề cung cấp các dịch vụ du lịch.Còn các nhà xã hội lại chỉ quan tâm đến nạn thất nghiệp, mức thu nhập, các vấn đề xã hội khác.Các vấn đề quan tâm ở mỗi ngành, mỗi tập thể, mỗi cá nhân thường gây ra những mâu thuẫn tưởng chừng khó giải quyết. Nhưng nếu có sự can thiệp của công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị trong từng lĩnh vực của nó thì mọi mâu thuẫn sẽ được giải quyết và giữa các hoạt động sẽ được kết hợp hài hoà. 8 - Những nội dung chủ yếu của quản lý trật tự đô thị * Quản lý nhà và đất đô thị theo quy hoạch: Là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đô thị bởi đất đai là một tài sản quan trọng trong sản xuất, quyền sử dụng và sở hữu đất đai thể hiện sự công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường.
Trên những mảnh đất này chứa đựng những công trình phục vụ cho những hoạt động của đô thị như ăn ở, đi lại, làm việc,. của dân cư đô thị. Vì vậy công tác quản lý đô thị không thể tách rời với công tác quản lý nhà ở đô thị và không thể không nhắc đến trong công tác quản lý đô thị. Quản lý nhà và đất đô thị phải đảm bảo theo quy hoạch thì mới đảm bảo cho sự lãnh đạo, quản lý thống nhất của nhà nước; là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai và xây dựng nhà ở tạo điều kiện để sử dụng đất đai và nhà ở một cách hợp lý.
* Quản lý xây dựng đô thị theo quy hoạch: Là công tác quan trọng trong hệ thống quản lý nhà nước về đô thị bởi nếu việc xây dựng không tuân theo những định hướng mà quy hoạch đã vạch ra thì không thể kiểm soát được sự phát triển của đô thị theo đúng trật tự của nó và có thể dẫn đến những thiệt hại to lớn về nhiều m t kinh tế - xã hội. Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị theo quy hoạch là tổng thể các biện pháp, cách thức mà chính quyền đô thị vận dụng các công tác quản lý để tổ chức sắp xếp các không gian đô thị sao cho sử dụng hợp lý các nguồn lực (không gian, kết cấu hạ tầng và tài nguyên thiên nhiên) để tác động vào các hoạt động xây dựng và phát triển (chủ yếu là phát triển không gian vật thể) nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường) của đô thị. * Quản lý các công trình hạ tầng kỹ thuật: Các công trình hạ tầng kĩ thuật là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của dân cư đô thị. Vì thế mà việc cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng là một trong những chức năng quản lý đô thị 9 quan trọng của chính quyền đô thị nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đô thị, đảm bảo trật tự đô thị trong xây dựng.
* Quản lý cơ sở hạ tầng xã hội đô thị: Là công tác tổng hợp quản lý các ngành y tế, giáo dục, thương mại, vui chơi giải trí. Quản lý xã hội đô thị bao gồm các nhiệm vụ: An ninh đô thị, phòng cháy chữa cháy, an ninh văn hoá, trật tự công cộng, phòng chống ma tuý, tệ nạn xã hội. Quản lý hạ tầng đô thị là một nhiệm vụ của quản lý nhà nước về đô thị mà chính quyền đô thị chịu trách nhiệm. Các biện pháp bảo đảm an ninh đô thị được chính quyền các cấp giao cho cơ quan chuyên trách mà chủ yếu là quân đội và công an.