phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan về hệ thống chính trị cấp cơ sở và địa bàn nghiên cứu. Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở xã Lóng Sập trong việc thực hiện chính sách dân tộc. Một số đánh giá và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong việc thực hiện chính sách dân tộc.
14 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về hệ thống chính trị cấp cơ sở 1. Các khái niệm cơ bản a) Khái niệm vai trò Theo Từ điển bách khoa thì vai trò đồng thời cũng đƣợc hiểu nhƣ là vai trò xã hội là: Phạm trù dùng để diễn đạt sự tƣơng tác xã hội, sự thực hiện chức năng của mỗi cá nhân trong tập đoàn, hay của cá nhân và tập đoàn trong toàn bộ xã hội. Xã hội phƣơng Tây có nhiều định nghĩa khác nhau về vai trò xã hội nhƣng đều trùng nhau ở chỗ cho vai trò xã hội là hàng loạt những hành động, hành vi của cá nhân tƣơng ứng với địa vị của cá nhân trong tập đoàn; đó là mặt động của địa vị xã hội [6, tr.
Còn trong Từ điển tiếng Việt thì khái niệm vai trò đƣợc trình bày là: Tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó. Vai trò của ngƣời quản lí. Giữ một vai trò quyết định [55, tr. b) Khái niệm hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ cơ cấu, các tổ chức chính trị trong xã hội đƣợc tổ chức trong một hệ thống và nó có vai trò quyết định đến toàn bộ hoạt động của bộ máy chính trị nhất định.
Mỗi quốc gia tùy điều kiện cụ thể mà có hình thức tổ chức hệ thống chính trị không giống nhau. Theo Từ điển bách khoa thì Hệ thống chính trị là: Tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị đƣợc xã hội chính thức thừa nhận. Hệ thống chính trị tƣ sản hiện đại thể hiện nền dân chủ tƣ sản, bao gồm: nhà nƣớc tiêu biểu cho quyền lực công, với các cơ quan lập pháp (nghị viện), cơ quan hành pháp, cơ quan tƣ pháp; các chính đảng; các tổ chức nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, cùng 15 z tham gia hoạt động chính trị (tranh cử, tham gia chính quyền, biểu tình, vận động quần chúng…. Đặc trƣng của hệ thống chính trị tƣ sản theo chế độ đại nghị hay chế độ tổng thống, là chế độ nhiều đảng do giai cấp tƣ sản và chính đảng của nó lãnh đạo; là chế độ tam quyền phân lập.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nƣớc quản lý. Đảng Cộng sản, với tƣ cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân và đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của toàn dân tộc, có sứ mạng lãnh đạo nhân dân toàn bộ xã hội thông qua nhà nƣớc và các đoàn thể nhân dân, bộ máy nhà nƣớc, có chức năng quản lí mọi mặt đời sống xã hội của các đoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia việc quản lí nhà nƣớc, quản lí xã hội [5, tr. Theo đó, Hệ thống chính trị ở nƣớc ta là một chỉnh thể các tổ chức chính trị quan hệ với nhau nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân. Mỗi thành viên của hệ thống chính trị đều có vị trí, vai trò nhất định trong đời sống chính trị của đất nƣớc.
Hệ thống chính trị nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên gồm: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân… c) Khái niệm hệ thống chính trị cấp cơ sở Hệ thống chính trị ở cơ sở (xã, phƣờng, thị trấn) bao gồm: Đảng bộ cơ sở (chi bộ - ở những nơi chƣa đủ điều kiện thành lập Đảng bộ), chính quyền cơ sở (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phƣờng, thị trấn), Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ…Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận, một cấp độ cấu thành hệ thống chính trị, đƣợc tổ chức và hoạt động ở cơ sở [59, tr. 16 z d) Khái niệm về vai trò của hệ thống chính trị Từ các vấn đề lý luận và thực tiễn, chúng ta có thể quan niệm về vai trò của hệ thống chính trị nhƣ sau: Vai trò của hệ thống chính trị là quá trình các tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ƣơng đến địa phƣơng hoạt động và phối hợp với nhau trong quá trình thực hiện chức năng, có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong tác động đến các đối tƣợng xã hội và có ý nghĩa quyết định trong định hƣớng và tổ chức thực hiện các mục tiêu mà cƣơng lĩnh, kế hoạch, nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nƣớc đề ra (theo PGS.TS Lê Ngọc Thắng). đ) Khái niệm về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở Cũng từ các vấn đề lý luận và thực tiễn, chúng ta có thể quan niệm về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở nhƣ sau: Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở là quá trình các tổ chức Đảng, Chính quyền, Đoàn thể ở xã, phƣờng, thị trấn hoạt động và phối hợp với nhau trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhất định tác động trực tiếp đến ngƣời dân trên địa bàn, các đối tƣợng xã hội liên quan khác mà hoạt động đó có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả trong tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội… của Nhà nƣớc đề ra ở địa phƣơng (theo PGS.TS Lê Ngọc Thắng). e) Khái niệm chính sách Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì Chính sách nói chung là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ; chính sách đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phƣơng hƣớng đƣợc xác định trong đƣờng lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể [4, tr. f) Khái niệm về chính sách dân tộc 17 z Chính sách dân tộc là loại chính sách đối với lĩnh vực, đối tƣợng đặc thù của giai cấp cầm quyền trong điều kiện của các quốc gia đa dân tộc. Chính sách dân tộc từ trƣớc đến nay có một số ý kiến cho rằng, theo nghĩa chung nhất: “chính sách dân tộc là tập hợp những quan điểm, đƣờng lối, chính sách và những giải pháp thực hiện của nhà nƣớc, tác động trực tiếp đến các dân tộc và mối quan hệ dân tộc đang tồn tại” (UBDT và MN - tài liệu đã dẫn tr 97-98). Chính sách dân tộc đƣợc đề cập đến trên hai phƣơng diện: quốc gia (theo định nghĩa trên) và quốc tế.
Trên bình diện quốc tế, chính sách dân tộc thể hiện quan điểm, thái độ của nhà nƣớc đối với các dân tộc và quốc gia dân tộc khác trên thế giới…Do vậy Chính sách dân tộc còn đƣợc hiểu là: “tổng hợp những quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đƣợc đề ra, tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc. Chính sách dân tộc mang bản chất giai cấp của nhà nƣớc trong phạm vi đối nội và đối ngoại” [47, tr. Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể nhận thấy: Chính sách dân tộc là sách lƣợc và kế hoạch cụ thể của Đảng và Nhà nƣớc ta về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…tác động đến các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc, tƣơng ứng với từng giai đoạn cách mạng; dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tƣơng trợ giúp nhau cùng phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đã đề ra; nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, xây dựng một nƣớc Việt Nam phát triển, dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh [4, tr. g) Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách dân tộc: Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc là quá trình hoạt động theo sự phân công và phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nƣớc, các cơ quan đơn vị có liên quan trong hệ thống chính trị, của các đối tƣợng hƣởng thụ chính sách nhằm làm cho các mục tiêu và nội dung chính sách thành hiện thực trong đời sống của các dân tộc [59, tr.
18 z Trên đây là những khái niệm cơ bản đƣợc tác giả sử dụng chính trong luận văn của mình. Việc làm rõ nội hàm của các khái niệm trên giúp cho tác giả cũng nhƣ ngƣời đọc có cơ sở về “khung” ý nghĩa để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan. Một số vẫn đề về hệ thống chính trị cấp cơ sở a) Hệ thống chính trị cấp cơ sở nước ta hiện nay Trong hệ thống chính trị cơ sở (HTCT cơ sở) Tổ chức Đảng - Đảng bộ hay Chi bộ cơ sở - là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị (HTCT) và lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội ở cơ sở. Vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng đƣợc thực hiện bằng việc ra các Nghị quyết, Chỉ thị định hƣớng làm cơ sở cho chính quyền triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của các đảng viên trong bộ máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; giới thiệu đảng viên ƣu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng công tác tuyên truyền, vận động; sự gƣơng mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật pháp của Nhà nƣớc đối với cán bộ và đảng viên.