Chương 1. Một số van dé ly luận vé Quoc hoi Viét Nam va Quoc hội Lao Chương 2. Thực trạng pháp luật về cơ cau tô chức của Quốc hội — So sảnh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Lào. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cơ cau tổ chức của Quốc hội nước CHDCND Lao.
CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE QUOC HOI VIET NAM VA QUOC HOI LAO 1. Một số van dé lý luận về Quốc hội Việt Nam. Khái niệm Quốc hội Việt Nam Quốc hội xuất hiện từ khi xuất hiện Nhà nước tư sản. Trong Nhà nước tư sản, với nguyên tắc “tam quyền phân lập”, Quốc hội là co quan nắm quyền lập pháp, là cơ quan làm việc theo chế độ hội nghị và biểu quyết theo đa số, vì vậy Quốc hội còn được gọi là nghị viện (Congress).
Phần lớn Quốc hội của các nước tư bản được phân chia làm hai viện là Thượng nghị viện (viện nguyên lão) và Hạ nghị viện (viện dân biểu). Tuy nhiên cũng có một số nước theo chế độ một viện là Phần Lan, Thụy Điền, Nauy. Theo nghĩa Hán Việt thì Quốc hội là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc hay còn gọi là Quốc dân đại hội. Quốc hội đầu tiên của Việt Nam được ra đời trên cơ sở cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946.
Tiền thân của Quốc hội Việt Nam là Quốc dân đại hội Tân Trào. Từ năm 1946 đến nay đã trải qua 13 kỳ bầu cử, hiện nay là nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyên lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. ” (Điều 69) Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đôi với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Quốc hội vừa mang chủ quyền Nhà nước, vừa mang chủ quyên nhân dân. Vi trí, tính chất, chức năng của Quốc hội Việt Nam Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng.
Theo Hiến pháp 2013, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tat cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2). Tuy nhiên, nhân dân không thé trực tiếp sử dụng quyền lực Nhà nước mà phải thông qua các cơ quan đại biểu dé thay mặt mình sử dụng quyền lực Nhà nước. Ở Việt Nam, các cơ quan này được gọi là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. * Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, tính đại diện cao nhất của Quốc hội Việt Nam.
Điều này được thể hiện ở những điểm sau: - Quốc hội là cơ quan duy nhất trong Bộ máy nhà nước Việt Nam do nhân dân cả nước trực tiếp bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo các nguyên tắc: phổ thông, bình đăng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. - Quốc hội đại diện cho y chí và nguyện vọng của nhân dân cả nước. - Quốc hội được câu thành từ những đại biểu ưu tú đại diện cho công nhân, nông dân, trí thức, những người lao động khác, các dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng và thành phần xã hội trong cả nước. Quốc hội do nhân dân cả nước bầu ra có cơ cau thành phan phản ánh sự đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tang lớp, dân tộc.
Hồ Chí Minh đã từng nói: “Các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại điện cho một dang phải nào mà là đại điện cho toàn thể quốc dan Việt Nam `; “Quốc hội là tiêu biểu cho ỷ chi thông nhất của dân tộc ta, một ÿ chi sắt đá không gì lay chuyển nổi ”. - Quốc hội thay mặt nhân dân cả nước để quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của nhân dân. Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyên hạn của mình dựa vào sự tín nhiệm của nhân dân, do nhân dân ủy quyên. - Quốc hội tồn tại và hoạt động là vì lợi ích của nhân dân.
Vì vậy, mọi quyết định của Quốc hội phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân cả nước. - Quốc hội chịu trách nhiệm trước nhân dân cả nước về mọi hoạt động của minh và luôn luôn chịu sự giám sát của nhân dân cả nước. Quốc hội và các đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của nhân dân thông qua việc bảo đảm cho nhân dân theo dõi quá trình làm việc của Quốc hội (Như: Tham dự các phiên họp; nghe chất van và tra lời chất van.), thông qua việc Đại biéu Quốc hội phải báo cáo hoạt động tai đơn vị bầu cử đã bầu ra mình. Tinh đại diện của Quốc hội còn thê hiện ở việc Quốc hội chiu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Đây là mối quan hệ ràng buộc hai chiều giữa Đại biéu Quốc hội với nhân dân. Bắt nguồn từ nhân dân và được sự tín nhiệm của nhân dân, các Đại biéu Quốc hội có trách nhiệm phải gan gũI, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân; phải xuất phát từ lợi ich của đông đảo nhân dân dé quyết định các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. * Quốc hội là cơ quan quyên lực nhà nước cao nhất: Là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thống nhất. Tính quyền lực Nhà nước của Quốc hội thé hiện ở thâm quyền của Quốc hội và được cụ thê hóa thành các chức năng và nhiệm vụ, quyên hạn cụ thê.
Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: (Điều 70 Hiến pháp 2013) “1. Làm Hiên pháp và sửa đôi Hiên pháp; làm luật và sửa đôi luật; 2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; 3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; 4.
Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đôi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương: quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; 5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; 6. Quy định tô chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bau cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; 7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bồ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Tham phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuân danh sách thành viên Hội đông quôc phòng và an ninh, Hội đông bâu cử quôc gia.
Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp; 8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; 9. Quyét định thành lập, bãi bỏ bộ, co quan ngang bộ cua Chính phủ; thành lập, giải thé, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật; 10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; 11.
Quyết định đại xá; 12. Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước; 13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; 14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tô chức quôc tê và khu vực quan trọng, các điêu ước quôc tê vê quyên con người, quyên và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điêu ước quôc tê khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội; 15.
Quyết định trưng cầu ý dân.” Tương ứng với vị trí, tính chất của mình, Quốc hội Việt Nam được Hiến pháp quy định có 3 chức năng là: Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyên lập pháp Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền thông qua Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, thông qua Luật và sửa đổi Luật. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, quy định các vấn đề quan trọng nhất về quyền lực Nhà nước và cách thức tô chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hóa — xã hội, về cơ cau tổ chức bộ máy Nhà nước, về quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, quyên và nghĩa vụ cơ ban của công dân. Hiến pháp và luật thé hiện đường lối cơ ban và những chủ trương lớn của Dang đã được Nhà nước thé chế hóa và có hiệu lực thi hành trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Luật là văn bản có hiệu lực pháp lý cao sau Hiến pháp.