Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 1. Khái niệm, vị trí và vai trò của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân 1. Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân Để nhận thức đúng bản chất, vai trò, nội dung cũng như phương thức động giám sát của HĐND thành phố trước hết cần làm rõ khái niệm giám sát.
Tùy theo phạm vi nghiên cứu khác nhau, khái niệm giám sát có thể hiểu theo các nghĩa như sau: Giám sát của Nghị viện các nước trên thế giới, được quan niệm: là việc theo dõi các hoạt động của hành pháp có hiệu quả, tin cậy, minh bạch và trung thực hay không, để đảm bảo rằng các khoản tiền được Nghị viện phê duyệt sẽ được sử dụng một cách hợp pháp, có hiệu quả và đúng mục đích đã đề ra [33, tr. Trong từ điển ngôn ngữ tiếng Việt, “Giám sát” được hiểu như một động từ chỉ “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã qui định” hoặc “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều qui định không [34]. Theo từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh thì “giám sát là xem xét và đàn hạch” [24]. Theo Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015: "Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý".
8 Luan van Dưới góc độ chính trị, pháp lý thì giám sát là việc cơ quan quyền lực nhà nước theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành các quy định của pháp luật trong lĩnh vực được giám sát, từ đó có các biện pháp nhằm đảm bảo cho lĩnh vực được giám sát vận hành thông suốt, hiệu quả và đúng pháp luật. Cùng với kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát là một loại nhiệm vụ trong quá trình thực thi quyền lực chính trị nhằm làm cho các đối tượng (của chủ thể giám sát) thực hiện đúng yêu cầu, mục đích, chức năng, nhiệm vụ đặt ra. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Giám sát của HĐND thành phố trực thuộc Trung ương là việc xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định tại Điều 59 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015; Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 của Luật này; xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát chuyên đề; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu. Đặc điểm của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân Một là, giám sát của HĐND mang tính quyền lực Nhà nước Tại Việt Nam, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.
Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp hoặc dân chủ đại diện. Điều 6 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” [17, Điều 6]. HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, 9 Luan van nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên; HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. Vì vậy hoạt động giám sát của HĐND mang tính quyền lực Nhà nước, thể hiện ở các điểm: - HĐND xem xét báo cáo của Thường trực HĐND, UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND tại kỳ họp và thảo luận, ra nghị quyết khi xét thấy cần thiết.
- Đại biểu HĐND có quyền chất vấn và có quyền thảo luận về vấn đề chất vấn, kiến nghị HĐND xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn. - Đối với văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp, khi phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật. thì HĐND có quyền xem xét đình chỉ hay bãi bỏ văn bản đó. - Khi thực hiện việc giám sát, trong trường hợp cần thiết, đoàn giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị vi phạm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu, kiến nghị qua hoạt động giám sát của mình.
Như vậy, ta có thể thấy rõ tính quyền lực Nhà nước trong hoạt động giám sát của HĐND thành phố trong việc thực thi quyền hạn của mình. Tính quyền lực Nhà nước cũng chính là điểm khác biệt giữa giám sát của HĐND với giám sát của Mặt trận tổ quốc, giám sát của Đảng, giám sát của Thanh tra nhân dân. Giám sát của Đảng là giám sát việc thực hiện Điều lệ Đảng, thực hiện nghị quyết của chi bộ, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và nhiệm vụ tiêu chuẩn đảng viên, ý thức tổ chức kỷ luật, tự phê bình và phê bình đoàn kết thống nhất nội bộ. Hoạt động giám sát của Đảng không mang tính quyền lực Nhà nước như giám sát của HĐND, mà mang tính kỷ 10 Luan van luật nội bộ Đảng, đó là sự lãnh đạo của Đảng trong giám sát nhằm phát hiện, khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, của cán bộ đảng viên về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và chấp hành Điều lệ Đảng.
Nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì chuyển cuộc giám sát sang cuộc kiểm tra của Đảng để xem xét, thi hành kỷ luật đảng đúng thẩm quyền, theo quy định của Điều lệ Đảng. Kỷ luật Đảng không thay thế kỷ luật hành chính và trách nhiệm pháp lý khác mà cấp ủy quản lý đảng viên phải kịp thời chỉ đạo tổ chức Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật đảng phải xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể theo quy định của cơ quan Nhà nước và điều lệ của đoàn thể. Hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc: “là giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân” [12]. Về hậu quả pháp lý: Mặt trận Tổ quốc không có quyền xử lý khi phát hiện sai phạm mà chỉ kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Hai là, giám sát của HĐND luôn gắn với một chủ thể nhất định Giám sát luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi ai (người hoặc tổ chức) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá về một việc đã được thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định? Giám sát vấn đề gì, và giám sát việc gì? Điều này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ nó phân biệt giữa “giám sát” với “kiểm tra”. Vì kiểm tra thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, đó là việc tự kiểm tra lại hoạt động chính mình của chủ thể hoạt động. Giám sát 11 Luan van của HĐND thì khác; chủ thể thực hiện việc theo dõi, giám sát không đồng nhất với đối tượng chịu sự giám sát. Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa chủ thể thực hiện hoạt động giám sát với đối tượng chịu sự giám sát, đó là quan hệ mang tính quyền lực Nhà nước.
Chủ thể có những quyền và nghĩa vụ gì khi thực hiện hoạt động giám sát theo quy định của pháp luật. Giám sát phải thể hiện tính chủ động trong hoạt động có mục đích được xác định trước của chủ thể thực hiện hoạt động giám sát và hoạt động giám sát được thực hiện thường xuyên theo một chương trình kế hoạch nhất định. Ba là, giám sát của HĐND theo một trình tự, thủ tục nhất định là dân chủ, công khai minh bạch và có tính chủ động Điều 59, 60, 61, 63, 64 Luật Giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 đã quy định rõ về trình tự thực hiện các hoạt động giám sát của HĐND. Ví dụ hoạt động giám sát thông qua việc xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp: Đây là một hình thức giám sát trực tiếp rất quan trọng của HĐND.
HĐND xem xét thảo luận báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND và VKSND cùng cấp tại kỳ họp cuối năm. Tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này gửi báo cáo công tác đến các đại biểu HĐND, khi cần thiết HĐND có thể xem xét thảo luận. Việc HĐND xem xét, thảo luận các báo cáo được diễn ra theo một trình tự nhất định: người đứng đầu các cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo; Trưởng ban HĐND trình bày báo cáo thẩm tra; HĐND thảo luận; người đứng đầu cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo có thể trình bày thêm những vấn đề có liên quan mà HĐND quan tâm; HĐND ra nghị quyết về công tác của cơ quan đã báo cáo khi xét thấy cần thiết.