mở đầu ý tưởng về nhà nước kiến tạo phát triển là “nhằm vượt qua sự tương phản giữa nền kinh tế Hoa Kỳ (điển hình của mô hình kinh tế tư bản thị trường tự do) và Liên bang Xô Viết (điển hình của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung)” [11, tr. Đây chính là cơ sở để nhiều học giả cho rằng Nhà nước kiến tạo phát triển dùng để chỉ một 16 z mô hình quản trị nằm giữa hệ thống kinh tế tư bản và hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Theo Jonhson nhà nước kiến tạo phải bao gồm những đặc điểm sau [45, tr.73-89]: 1) Tồn tại những quy tắc ổn định vững chắc do giới tinh hoa chính trị - quan liêu thiết lập nên, tương đối độc lập trước các sức ép chính trị có thể gây tổn hại tới tăng trưởng kinh tế. 2) Có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và tư.
Sự hợp tác được thể chế hóa này do một cơ quan kế hoạch hóa mang tính chiến lược giám sát (ví dụ ở Nhật bản là bộ ngoại thương và công nghiệp MITI). 3) Có sự đầu tư mạnh mẽ và liên tục cho giáo dục kết hợp với một số chính sách nhằm phân chia công bằng của cải. 4) Có một chính phủ nắm rõ và tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường. Ngoài ra chính quyền phải mạnh, thậm chí là chuyên chế.
Tiếp tục trong một bài viết khác, Chalmers Jonhson nêu lên các đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển ở Nhật Bản gồm những đặc trưng sau [44, tr.32]: 1) Nhật Bản có một bộ máy hành chính gọn nhẹ nhưng hiệu quả, có nhiệm vụ xác định và lựa chọn các ngành công nghiệp để phát triển và những phương thức tốt nhất để phát triển nhanh chóng những ngành công nghiệp đã lựa chọn; đồng thời giám sát sự cạnh tranh trong các ngành chiến lược đã thiết kế nhằm bảo đảm hiệu năng của nền kinh tế; 2) Nhật Bản có một hệ thống chính trị mà nền hành chính được trao quyền đầy đủ, có năng lực đưa ra những ý tưởng và vận hành một cách hiệu quả, ít bị ràng buộc bởi hai nhóm quyền lực còn lại là lập pháp và tư pháp, hai nhánh quyền lực này chỉ còn đóng vai trò như một chiếc “van an toàn”; 3) Nhà nước Nhật Bản có các biện pháp can thiệp phù hợp vào thị trường, thông qua các thiết chế tài chính, tiền tệ và các hướng dẫn hành chính 17 z (các hướng dẫn này tồn tại giúp nhà nước không phải ban hành các luật quá chi tiết mà có thể trói buộc nền hành chính sáng tạo); 4) Có một cơ quan, tổ chức là Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản để kiểm soát chính sách công nghiệp. Cơ quan này có cơ cấu tinh gọn, chỉ có chức năng “tư vấn”, không nắm giữ hay trực tiếp điều hành nguồn ngân sách, nhưng được trao quyền để quản lý theo chiều dọc việc thực hiện các chính sách công nghiệp ở cấp độ vi mô. Nhà nghiên cứu Adrian Leftwith định nghĩa mô hình nhà nước này thông qua 6 đặc trưng sau [48, tr.400-407]: 1) Tồn tại tầng lớp quan liêu tinh hoa gần gũi với Nhà nước, giới tinh hoa trong nhà nước kiến tạo phát triển có số lượng nhỏ, những người này gần gũi với chính quyền, tạo thành hạt nhân vững chắc và đoàn kết hỗ trợ cho Nhà nước. Có nhiều quân nhân giữ vị trí quan trọng trong chính quyền, các chính sách phát triển chịu ảnh hưởng của tầng lớp quan liêu ưu tú này; 2) Tính độc lập tương đối của Nhà nước: Nhà nước độc lập tương đối trước các nhóm áp lực (giai cấp tầng lớp quyền lực mang tính địa phương) và đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích của nhóm áp lực này; 3) Điều phối kinh tế và phát triển được một số thiết chế chuyên biệt đảm trách (ví dụ như một bộ chịu trách nhiệm tổ chức các tương tác giữa Nhà nước và nền kinh tế).
Các thiết chế này có thực quyền và năng lực kĩ thuật trong xây dựng và áp dụng các chính sách phát triển; 4) Xã hội yếu, chính quyền mạnh và kiểm soát chặt chẽ xã hội ở giai đoạn đầu; 5) Nhà nước kiến tạo phát triển và lợi ích kinh tế: Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bới các lợi ích kinh tế tư nhân. Điều này xuất phát từ quyền lực và sự độc lập của nhà nước được củng cố trước khi giới tư bản trở thành một thế lực ảnh hưởng. Các lợi ích tư nhân chưa có một sức mạnh đáng kể vào thời điểm thiết lập Nhà nước; 18 z 6) Các quyền dân sự: Trong các Nhà nước theo mô hình kiến tạo phát triển, các quyền dân sự bị hạn chế, đây thường là các quốc gia phi dân chủ và có mức độ chuyên chế cao. Nhưng nhà nước lại có được tính chính danh từ nhân dân nhờ các lợi ích từ tăng trưởng kinh tế được phân phối tốt.
Chương trình phát triển của liên hợp quốc UNDP thì cho rằng, “Nhà nước kiến tạo phát triển hiểu theo nghĩa giản dị, đó là một nhà nước đóng vai trò mạnh mẽ trong nền kinh tế quốc gia với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế” [51, tr. UNDP cũng đưa ra các đặc điểm cụ thể của Nhà nước kiến tạo phát triển bao gồm [51, tr.8]: 1) Bộ máy quan liêu mạnh, có thẩm quyền, không bị chính trị hóa, được tách biệt và không bị ảnh hưởng bới các cuộc bầu cử và các áp lực kinh doanh; 2) Giới lãnh đạo mạnh mẽ, có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng (không nhất thiết phải là độc đoán, chuyên chế) và có cam kết lớn; 3) Kế hoạch phát triển quốc gia hiệu quả; 4) Khả năng điều phối các hoạt động kinh tế và các nguồn lực; 5) Hỗ trợ tầng lớp doanh nhân quốc gia mà sẽ phát triển trở thành tầng lớp tư sản quốc gia; 6) Tập trung vào nâng cao năng lực con người bằng cách đầu tư vào các chính sách xã hội, để thúc đẩy giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội khác; 7) Có niềm tin và sự tự tin vào việc xây dựng các định chế và tiêu chuẩn như pháp quyền, công lý, ổn định chính trị, và hòa bình để đảm bảo “sự tin tưởng thị trường” (market trust). Hội đồng kinh tế Châu Phi của Liên hợp quốc và Liên minh châu Phi đưa ra một mẫu hình như sau: “Nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước mà, ngoài những điều khác, có tầm nhìn và khả năng thực hiện một chủ thuyết phát triển (leadership with a developmentalist ideology); có kế hoạch phát triển quốc gia mạnh; có tính tự chủ tương đối với các lực lượng trong xã hội; 19 z bộ máy hành chính quan liêu mạnh; và có cam kết nâng cao năng lực con người; có sự ổn định về chính trị; tuân thủ nguyên tắc pháp quyền; và hoạt động của chính quyền có thể dự báo trước” [52]. Qua các định nghĩa nêu trên về nhà nước kiến tạo phát triển, có thể thấy các nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm dựa trên hai góc độ, một là góc độ mục tiêu của nhà nước hay ý thức hệ hướng tới sự phát triển, hai là góc độ về cấu trúc thể chế hay cơ cấu bộ máy hành chính để hiện thực hóa các chính sách của nhà nước [11, tr.
UNDP thì cho rằng đây là hai đặc điểm cơ bản của Nhà nước kiến tạo phát triển, đó là: 1) (có hoặc dựa trên) một tư tưởng về sự phát triển; 2) (có hoặc dựa trên) những sắp xếp thể chế với các nguyên tắc và tiêu chuẩn mà có thể hỗ trợ các quá trình phát triển. Quan điểm về nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam Ở Việt Nam Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đã gợi mở về Nhà nước kiến tạo phát triển, trong bài viết xác định nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: “Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển… Trong nhà nước kiến tạo phát triển, chức năng của nhà nước là xây dựng quy hoạch phát triển theo một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đúng đắn; tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống” [24]. Bắt đầu từ đó thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” được sử dụng khá phổ biến trong các thông điệp điều hành của Chính phủ Việt Nam và nhận được sự quan tâm đặc biệt của các diễn đàn học thuật, trở thành chủ đề chính trong nhiều nghiên cứu và các hoạt động khoa học trong nước. Sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói về Nhà nước kiến tạo phát triển, hai nhà nghiên cứu Ngô Huy Đức, Nguyễn Thị Thanh Dung của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã công bố nghiên 20 z cứu của mình, trong đó nêu lên nội hàm của khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển bao gồm các đặc điểm sau [10]: 1) Nhà nước kiến tạo phát triển phải là một mô hình nhà nước pháp quyền, dân chủ; 2) Các cơ quan nhà nước hoạt động công khai, minh bạch và có trách nhiệm giải trình; đội ngũ công chức viên chức được tuyển chọn cạnh tranh, công bằng, đủ năng lực, tầm nhìn và tài năng để hoạch định chính sách phát triển, xây dựng các thể chế phát triển, phục vụ phát triển; 3) Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống kinh tế - xã hội của người dân và doanh nghiệp, chuyển từ vai trò quản lý, điều hành sang vai trò kiến tạo phát triển, như định hướng phát triển, hỗ trợ phát triển và quản trị rủi ro trong phát triển; 4) Phi tập trung hóa quyền lực nhà nước, phân quyền và phân cấp rõ ràng, tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước các cấp có khả năng độc lập, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước; 5) Quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp và người dân, tận tụy phục vụ nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và người dân, tạo ra các điều kiện để mọi doanh nghiệp, mọi người dân được bình đẳng và tham gia sáng tạo vào quá trình tìm kiếm phúc lợi cho bản thân trên cơ sở làm bất cứ việc gì pháp luật không cấm.