Chương 1 “Giới thiệu”. Chương này nhằm mục đích giới thiệu tổng quan về luận án bao gồm các nội dung cơ bản như: vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và những đóng góp của luận án. 7 Chương 2 “Xếp hạng tín nhiệm ngân hàng thương mại tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi”. Nội dung của chương bao gồm phần trình bày tóm lược một số vấn đề cơ bản liên quan đến MXHTN của NHTM, đặc điểm kinh tế và đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi.
Bên cạnh đó, nội dung của chương cũng trình bày cơ sở lý thuyết của luận án và tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến MXHTN của các NHTM để đúc kết thành khung phân tích phù hợp cho luận án. Chương 3 “Phương pháp nghiên cứu”. Nội dung của chương bao gồm: phần trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả tóm tắt dữ liệu nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu của luận án. Bên cạnh đó, tác giả trình bày chi tiết các phương pháp kinh tế lượng được áp dụng trong luận án để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM và sự khác biệt trong tác động của các yếu tố này đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi.
Chương 4 “Kết quả nghiên cứu và thảo luận”. Chương 4 trình bày kết quả phân tích phương sai một yếu tố các biến giải thích trong mô hình nghiên cứu theo các MXHTN khác nhau và kết quả của phương pháp lựa chọn biến giải thích trong mô hình Ordered logit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển và tại các nền kinh tế mới nổi. Mặt khác, nội dung của chương cũng bao gồm kết quả đánh giá mức độ phù hợp và kết quả kiểm định một số giả định của mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, chương này cũng trình bày kết quả phân tích nhằm xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi.
Cuối cùng, nội dung của chương trình bày phần thảo luận các kết quả nghiên cứu của luận án và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trong luận án đã đề ra trong chương 3. Chương 5 “Kết luận và gợi ý chính sách”. Chương này tóm tắt lại một số kết quả chính của luận án, những gợi ý chính sách cho các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng và bản thân các NHTM. Cuối cùng, chương 5 trình bày một số hạn chế của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
8 CHƯƠNG 2 XẾP HẠNG TÍN NHIỆM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÁC NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI. Mục đích của chương này nhằm giới thiệu một cách khái quát một số vấn đề cơ bản liên quan đến MXHTN của NHTM, đặc điểm các nền kinh tế phát triển, các nền kinh tế mới nổi và đặc điểm của các NHTM tại các quốc gia này. Mặt khác, Chương 2 cũng đề cập đến sự bất cân xứng thông tin trong việc đánh giá MXHTN của NHTM và tác động của vấn đề này dẫn đến sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi. Đồng thời, nội dung của chương cũng bao gồm phần lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến MXHTN của các NHTM.
Từ đó, tác giả đề xuất khung phân tích phù hợp cho luận án.1 Tổng quan về MXHTN của NHTM 2.1 Khái niệm về MXHTN của NHTM Theo Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm Moody’s, MXHTN của một NHTM do Moody’s công bố thể hiện mức độ uy tín hay mức độ tin cậy của đơn vị này đối với các nghĩa vụ tài chính (MXHTN này không áp dụng riêng cho một khoản nợ hay một loại chứng khoán cụ thể) (Moody’s, 2009). Theo một cách khác, MXHTN của một NHTM do Standard & Poor’s công bố là một sự đánh giá thể hiện năng lực tài chính tổng thể của NHTM để thanh toán những nghĩa vụ tài chính. Sự đánh giá này tập trung vào khả năng và mức độ sẳn sàng của một NHTM trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính đến hạn. Sự đánh giá này không áp dụng riêng cho một nghĩa vụ tài chính cụ thể và cũng không đề cập đến đặc điểm của những khoản dự phòng cho những nghĩa vụ tài chính này.
Việc đánh giá MXHTN tập trung vào xác định khả năng phá sản hay khả năng thanh toán những nghĩa vụ tài chính của đơn vị được đánh giá trên phương diện nghĩa vụ pháp lý. Ngoài ra, MXHTN của NHTM cũng được xem xét một cách tách rời với MXHTN của chủ thể bảo lãnh cho các nghĩa vụ tài chính của NHTM được đánh giá (Standard & Poor’s, 2010). 9 Tương tự, MXHTN của NHTM do Fitch công bố thể hiện khả năng thanh toán đúng hạn các nghĩa vụ tài chính của NHTM. MXHTN của NHTM do Fitch công bố dựa trên việc phân tích khả năng gánh chịu, thái độ và năng lực quản trị rủi ro của NHTM kết hợp với việc đánh giá khả năng hỗ trợ tài chính của chính phủ hay tập đoàn mẹ đối với NHTM (Fitch, 2003).
Tóm lại, từ 3 khái niệm về MXHTN của NHTM của 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín nhất trên thế giới được trình bày ở trên, ta có thể hiểu được rằng MXHTN của NHTM là thước đo phản ánh cụ thể mức độ uy tín và khả năng thanh toán đúng hạn các nghĩa vụ tài chính của NHTM. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm về MXHTN của NHTM cụ thể như nghiên cứu của Matousek và Stewart (2009), Iannotta và cộng sự (2010), Caporale và cộng sự (2012), … cũng đều thống nhất với nhau về khái niệm MXHTN của NHTM như trên. Mặt khác, Bellotti và cộng sự (2011a) còn chỉ ra rằng MXHTN do các tổ chức xếp hạng tín nhiệm công bố là những thang đo thứ bậc phản ánh tình hình tài chính của các NHTM không chỉ trong hiện tại mà còn cả trong tương lai. Nói một cách khác, quá trình đánh giá MXHTN của một đơn vị là một quá trình độc lập với mục đích là xác định khả năng và mức độ sẳn sàng để thanh toán những nghĩa vụ tài chính.
Quá trình này được thực hiện bởi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thông qua việc phân tích và đánh giá tổng hợp những yếu tố rủi ro có thể nhận biết được của đơn vị được đánh giá. MXHTN của một NHTM có thể được thay đổi, tạm đình chỉ việc áp dụng hay được thu hồi lại bởi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm do những sự thay đổi trong những thông tin tài chính của đơn vị hay tính sẳn có của các thông tin này. Việc đánh giá MXHTN của một NHTM do các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thực hiện căn cứ trên những thông tin hiện tại được cung cấp bởi chính NHTM được đánh giá hay có thể từ những nguồn thông tin đáng tin cậy khác. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm không thực hiện kiểm toán đối với những thông tin tài chính này và đôi khi dựa trên những thông tin tài chính chưa được kiểm toán.
MXHTN của một NHTM bao gồm MXHTN ngắn hạn và MXHTN dài hạn. MXHTN ngắn hạn thể hiện mức độ tin cậy của một đơn vị trong việc hoàn tất các nghĩa vụ tài chính của đơn vị này trong khoảng thời gian ngắn (Standard & Poor’s, 2010). 10 MXHTN dài hạn của NHTM theo Standard & Poor’s được phân chia cụ thể thành 10 cấp độ khác nhau từ MXHTN tốt nhất đến MXHTN kém nhất bao gồm: AAA, AA,…. MXHTN dài hạn của các NHTM theo tiêu chuẩn đánh giá của Moody’s được phân chia thành 9 bậc từ cao đến thấp bao gồm: Aaa, Aa, A, Baa, Ba, B, Caa, Ca, C (Moody’s, 2009).
Tương tự, Fitch cũng phân MXHTN của các NHTM thành 11 bậc từ cao đến thấp bao gồm: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, RD, D. Mặc dù có sự khác biệt về số lượng các mức đánh giá MXHTN dài hạn của NHTM giữa 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm là Fitch, Standard & Poor’s và Moody’s như đã nêu nhưng tác giả nhận thấy rằng sự khác biệt này chỉ tập trung ở các MXHTN thấp nhất để phân biệt cụ thể mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán cực kỳ cao của các NHTM. Cụ thể, theo Standard & Poor’s, MXHTN R thể hiện NHTM đang trong tình trạng chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý do những bất ổn tài chính nghiêm trọng và chỉ có thể đáp ứng một vài nghĩa vụ tài chính, còn MXHTN SD thể hiện NHTM mất khả năng thanh toán với hầu hết các nghĩa vụ tài chính của mình. Theo Fitch, MXHTN C thể hiện NHTM đang trong tình trạng khó tránh khỏi nguy cơ phá sản, MXHTN RD thể hiện NHTM đã bắt đầu mất khả năng thanh toán với các nghĩa vụ tài chính của mình, MXHTN D thể hiện NHTM đang trong tình trạng tiến hành các thủ tục phá sản hay trong tình trạng bị kiểm soát đặc biệt chờ phá sản.
Còn theo Moody’s, MXHTN C thể hiện NHTM đang trong tình trạng phá sản và có rất ít cơ hội để khôi phục trở lại. Do vậy, khái niệm về MXHTN dài hạn và thang đo MXHTN dài hạn đang được 3 tổ chức xếp hạng quốc tế có quy mô lớn nhất áp dụng hiện nay khá thống nhất và có nhiều điểm tương đồng nhau. Ngoài ra, 2 hệ thống cơ sở dữ liệu nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng phổ biến hiện nay là Bankscope và Thomson Reuters Datastream đều sử dụng MXHTN của NHTM do tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch công bố. Bên cạnh đó, theo Bellotti và cộng sự (2011a), Matousek và Stewart (2009) thì Fitch là tổ chức xếp hạng tín nhiệm thực hiện nhiều nhất các đánh giá MXHTN đối với các NHTM trên thế giới hiện nay.
Mặc dù, tại cùng một thời điểm, một NHTM có thể nhận được các MXHTN khác nhau từ 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín nhất hiện nay là Fitch, Standard & Poor’s và Moody’s. Tuy nhiên, Alsakka và cộng sự (2014) đã chứng minh rằng cả 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm này sẽ nhanh chóng điều 11 chỉnh MXHTN của họ tương đồng với các MXHTN của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm còn lại.Vì vậy, trong phạm vi luận án khái niệm MXHTN của các NHTM được hiểu là MXHTN dài hạn của NHTM do Fitch công bố.