CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 1. Tổng quan Quỹ đầu tư phát triển: Trên thế giới, nhiều quốc gia đã và đang sử dụng một cách có hiệu quả các tổ chức tài chính - tín dụng của Nhà nước hoặc có sự bảo trợ của Nhà nước. Nhiệm vụ chính của các tổ chức này là: cùng với các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước bảo đảm sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của ngân hàng; tài trợ cho các dự án, chương trình mục tiêu của chính phủ nhằm đảm bảo nền tảng cho phát triển kinh tế, cải thiện cơ cấu kinh tế, tài trợ cho các chính sách xã hội của Nhà nước; cung cấp vốn cho các dự án cần thiết về kinh tế - xã hội mà hệ thống ngân hàng thương mại không đảm nhận được. Vào đầu thiên niên kỷ này, trên thế giới có khoảng 550 tổ chức tài chính tín dụng, bao gồm các Quỹ đầu tư phát triển các quốc gia, khu vực; các quỹ đầu tư phát triển, các ngân hàng chính sách, ngân hàng xuất nhập khẩu,.Xét về lịch sử, các Quỹ đầu tư phát triển có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện công nghiệp hoá ở các nước phương tây (trường hợp công nghiệp hoá ở Mỹ), hay xây dựng lại nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai (Châu Âu, Nhật) hay khắc phục khủng hoảng tài chính, tiền tệ, khủng hoảng nợ (Nam Mỹ - 1986; Hàn Quốc và Ðông Nam Á 1997-1998) Kinh nghiệm quốc tế ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Liên minh Châu Âu cho thấy sự cần thiết khách quan của tín dụng đầu tư phát triển.
Đây chính là công cụ tài chính hết sức quan trọng của Nhà nước (Chính Phủ) để thực thi những chính sách phát triển mang tính công ích cao mà khu vực tín dụng thương mại không đáp ứng được. Ở Mỹ đó là tài trợ của Nhà nước cho lĩnh vực nhà ở nhằm đảm bảo mọi gia đình đều có nhà ở; Đức, Nhật là dùng các nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để điều chỉnh cơ cấu kinh tế, các dự án mang tính công ích cao; Hàn Quốc đầu tư các nguồn tín dụng của Nhà nước để thúc đẩy 5 các ngành công nghệ cao, cải cách tài chính doanh nghiệp, thậm chí cung cấp vốn lưu động cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu vốn Nhà nước. Đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển những cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Trung Quốc là ví dụ điển hình, khi thành lập Quỹ đầu tư phát triển Trung Quốc (CDF) là cơ quan ngang Bộ có nhiệm vụ tài trợ cho các ngành: điện, đường sắt, công nghiệp dầu khí và hoá dầu, viễn thông, đường cao tốc và những ngành công nghiệp hạ tầng đô thị.
Đồng thời CDF được giao nhiệm vụ tài trợ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng duyên hải với các vùng sâu nội địa, quản lý và tối ưu hoá các khoản đầu tư cố định của Nhà nước. Từ kinh nghiệm của các nước có thể rút ra một số vấn đề như sau: Vị thế pháp lý: Các tổ chức tài chính chính sách được tổ chức theo Luật hoặc sắc lệnh riêng và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động nghiệp vụ: Các hoạt động của Quỹ đều do chính phủ quy định trong từng thời kỳ theo nguyên tắc bổ sung thay vì cạnh tranh với hệ thống ngân hàng thương mại vì đây là các khoản cho vay thường có thời hạn cho vay dài, đầu tư vào các lĩnh vực chịu nhiều rủi ro và sử dụng nhiều vốn mà các ngân hàng thương mại thường không đủ tiềm lực tài chính hoặc không muốn cho vay. Ngoài ra, các Quỹ đầu tư phát triển có thể cung cấp các dịch vụ mang tính đặc thù mà các ngân hàng thương mại không có khả năng thực hiện như bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Một đặc điểm nữa là dù hoạt động theo quy định của chính phủ, nhưng các Quỹ thường có mức độ tự chủ cao, Nhà nước chỉ can thiệp vào hoạt động của Quỹ trong thời gian đầu, đến khi nền kinh tế phát triển đến mức độ nhất định thì Nhà nước chỉ có vai trò kiểm soát vĩ mô và giám sát hoạt động. Nguồn vốn hoạt động: Nhà nước sở hữu 100% vốn. Vốn điều lệ ban đầu do UBND tỉnh cấp. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động Quỹ được phép huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau; trong đó quan trọng nhất là phát hành trái phiếu trong nước và ngoài nước.
Thông thường các Quỹ này không được phép huy động vốn từ dân cư để tránh cạnh tranh với hệ thống ngân hàng thương mại. 6 Lãi suất cho vay: Thời gian đầu thực hiện, các Quỹ đầu tư phát triển thường cấp tín dụng với lãi suất thấp hơn so với lãi suất thị trường, sau đó cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, lãi suất sẽ tiến tới gần ngang bằng với lãi suất của các ngân hàng thương mại. Sự ưu đãi chỉ thể hiện ở chất lượng dịch vụ, thời gian cho vay và thời gian ân hạn. Đối với một số lĩnh vực, vùng trọng điểm cần sự hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước, trong trường hợp này Quỹ đầu tư phát triển sẽ được cấp bù chênh lệch lãi suất.1 Khái niệm và đặc điểm của Quỹ ĐTPT: Quỹ đầu tư phát triển là tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Sự hình thành Quỹ đầu tư phát triển (QĐTPT) là một tất yếu bởi lẽ: a. Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế là rất lớn Thông qua hoạt động của các ngân hàng, Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế đặc biệt là chính sách tiền tệ. Như vậy có thể nói, ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính có quyền lực mạnh mẽ của nền kinh tế. Quốc gia nào cũng tồn tại nhiều hình thức ngân hàng, tuy nhiên bao giờ Ngân hàng thương mại (NHTM) cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô, tài sản, thị phần cũng như số lượng… Có thể khẳng định, NHTM là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Qua hoạt động của hệ thống định chế này, các nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân. Nền kinh tế luôn tiềm ẩn những bất ổn như xảy ra lạm phát, khủng hoảng.các cá nhân thường duy trì thói quen gửi tiền trong thời gian ngắn (từ 12 tháng trở xuống). Đương nhiên, không một tổ chức tài chính nào sẽ dùng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn. Để đầu tư phát triển kinh tế, các quốc gia trên thế giới thường huy động vốn từ nhiều kênh khác nhau.
Ngoài huy động vốn từ hệ thống NHTM, các quốc gia có thể huy động vốn trung dài hạn từ thị trường vốn mà thị trường chứng khoán là trung tâm. Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển, diễn biến trên thị trường chứng 7 khoán thường không ổn định. Trên cơ sở này, Quỹ ĐTPT ra đời với mục tiêu cao nhất là phục vụ nhu cầu vốn trung dài hạn cho phát triển kinh tế. Thực hiện chính sách tín dụng ưu tiên của Nhà nước Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường ở nước ta cần rất nhiều vốn đầu tư mà Nhà nước không thể thoả mãn bằng con đường cấp phát.
Vì vậy, Nhà nước sử dụng công cụ tín dụng đầu tư như một biện pháp tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội (giao thông, thủy lợi, điện lực…) cũng như phát triển các ngành công nghiệp then chốt (điện tử - viễn thông, công nghệ sinh học…) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tất nhiên, Nhà nước không thể trực tiếp thực hiện việc này mà phải thông qua một hoặc một số tổ chức tài chính. Việc giao cho một NHTM nào đó thực hiện tín dụng thông thường đồng thời thực hiện tín dụng đầu tư sẽ làm tăng nguy cơ rủi ro từ việc xác định đối tượng đến khả năng giám sát của Nhà nước. Vì vậy, việc hình thành một định chế tài chính trực thuộc địa phương, đảm nhận công tác tín dụng đầu tư là tất yếu.
Do đó, Quỹ ĐTPT hình thành và trực thuộc sự kiểm soát của chính quyền địa phương, do cho vay các dự án với lãi suất thấp, thời gian dài, rủi ro lớn nên Quỹ nhận được sự hỗ trợ lớn từ Nhà nước. Yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển có hiệu quả Các mục tiêu phát triển thể hiện một cách tập trung nhất những biến đổi quan trọng về mặt chất của nền kinh tế, những mốc phải đạt tới trên con đường phát triển đất nước. Do NSNN hạn hẹp, việc cho vay bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư (TDĐT) là một trong những giải pháp hữu hiệu làm cho nguồn vốn của Nhà nước được cộng thêm vốn đối ứng trên thị trường góp phần tăng quy mô và hiệu quả của dự án. Hơn nữa, với nguyên tắc phải hoàn trả nợ vay, chủ đầu tư sẽ có trách nhiệm hơn và giảm bớt tình trạng gây thất thoát, lãng phí nguồn lực.
8 Xuất phát từ những lý do hình thành Quỹ ĐTPT, Quỹ ĐTPT có một số đặc điểm sau đây: - Quỹ ĐTPT là tổ chức tài chính thực hiện nhiệm vụ tập trung các nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư có trọng điểm và ưu đãi cho các dự án phát triển theo định hướng của tỉnh. Do nguồn lực khan hiếm, thứ tự ưu tiên phát triển các ngành, các lĩnh vực của Nhà nước không phải trong thời kỳ nào cũng giống nhau. Những lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước xuất phát từ việc phân tích thực trạng của nền kinh tế trong nước cùng với bối cảnh kinh tế thế giới. Do đó, Quỹ ĐTPT không thực hiện cho vay dàn trải tất cả các dự án mà tập trung vào những dự án mang tính chất cấp bách theo định hướng và chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh trong từng thời kỳ.
- Quỹ ĐTPT phục vụ dự án phát triển do đó có thể nói các lợi ích Quỹ vươn tới là các lợi ích mang tính chất công. Vì lý do đó, đối tượng phục vụ của Quỹ ĐTPT thường không rộng như các NHTM. Đối tượng phục vụ của Quỹ tuân theo các chuẩn mực đặc biệt của Nhà nước.