CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Một số khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm Theo Hồ Diệu (2001), thì "Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi". Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, "Tín dụng cá nhân là loại hình tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể.” Nhóm đối tượng KHCN sẽ bao gồm hộ gia đình có giấy đăng ký hộ kinh doanh và KHCN, do đó: Hình thức cho vay KHCN được xem là hoạt động cho vay của các NHTM, khi đó NHTM sẽ là đơn vị chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN hoặc hộ gia đình quyền sử dụng nguồn vốn vay trong một thời gian nhất định và phải thanh toán cả gốc lẫn lãi, mục đích vay vốn là phục vụ nhu cầu SXKD theo dạng kinh doanh cá thể hoặc phục vụ đời sống hằng ngày. Hoạt động cho vay dựa trên đối tượng KH sẽ bao gồm cho vay DN, cho vay các tổ chức tài chính và cho vay KHCN. Vì đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng tới là hoạt động cho vay KHCN của NHTM nên ta chỉ đưa ra nhận xét về hoạt động này.
Việc cho vay KHCN thực chất là hình thức tài trợ của NH đối với KH là các cá nhân: “Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng” (Nguyễn Minh Kiều, 2006). Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Đặc điểm cho vay KHCN: Thông thường cho vay KHCN sẽ mang những đặc điểm riêng như: 6 Đối tượng cho vay là cá nhân và các hộ gia đình. Quy mô khoản vay: những khoản vay của nhóm KHCN thường có quy mô nhỏ, tuy nhiên số lượng khoản vay lại lớn, vì cho vay KHCN là phục vụ nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình trong hoạt động tiêu dùng hay SXKD nhỏ lẻ, do đó quy mô của khoản vay thường nhỏ hơn so với tài sản của NH, số lượng vay thường lớn là do lượng KHCN và hộ gia đình nhiều, nhu cầu tiêu dùng lại đa dạng (Nguyễn Minh Kiều, 2006).
Mục đích vay: để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc SXKD của cá nhân, hộ gia đình. Vì vậy, nhu cầu vay vốn thường dựa vào tâm lý KH và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Một khi nền kinh tế tăng trưởng tốt và phát triển ổn định thì KHCN sẽ có tâm lý thoải mái, lạc quan và luôn hy vọng thu nhập của bản thân sẽ tăng trong tương lai, vì vậy sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng hoặc SXKD ở thời điểm hiện tại. Nếu nền kinh tế kém phát triển và có dấu hiệu suy thoái thì người dân sẽ có xu hướng thắt chặt chi tiêu, hạn chế những khoản chi không cần thiết cũng như giảm đầu tư cho SXKD mà thay vào đó là tiết kiệm, nên nhu cầu vay vốn giảm mạnh.
Trong thực tế, nhu cầu vay của KH thường kém nhạy cảm với lãi suất, hầu hết KH vay vốn đều quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Điều này cho thấy mức thu nhập và trình độ dân trí sẽ ảnh hưởng mạnh tới nhu cầu vay của KH (Nguyễn Minh Kiều, 2006). Rủi ro đối với cho vay KHCN: hoạt động cho vay KHCN thường có mức độ rủi ro cao nhất trong danh mục tài sản của NH. Vì tình hình tài chính của KHCN thay đổi liên tục nên rất dễ mất khả năng thanh toán hoặc KH cố tình không thanh toán hay sức khỏe của KH gặp vấn đề, mất việc,…Ngoài ra, việc thẩm định khả năng thanh toán nợ của các cá nhân cũng như hộ gia đình thường gặp nhiều khó khăn hơn vì họ không đủ cơ sở để chứng minh năng lực tài chính.
Bên cạnh đó, không ít KH để vay được vốn họ đã giấu các thông tin liên quan tới tình hình sức khỏe của bản thân cũng như công việc trong tương lai để NH không nắm bắt được thông tin chính xác về KH, điều này dẫn tới rủi ro cao cho NH. Vì khoản vay của nhóm KHCN có rủi ro cao nhất nên các NH cần yêu cầu tài sản đảm bảo (TSĐB) khi vay và người vay phải mua BHTN, BHNT và bảo hiểm cho hàng hoá đã mua. 7 Lãi suất cho vay: vì quy mô của khoản vay tương đối nhỏ (ngoại trừ vay để mua BĐS) nên chi phí (chi phí thẩm định, quản lý…) của những khoản vay thường cao, ngoài ra rủi ro của khoản vay cũng lớn. Vì vậy lãi suất cho vay KHCN sẽ cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM (Nguyễn Minh Kiều, 2006).
Đối với những NH cho vay KHCN thì đây được xem là nguồn thu mang lại lợi nhuận và lãi suất cao nhất. Nghĩa là lợi nhuận thu được đủ để bù đắp cho các chi phí huy động vốn của NH, không giống với những hình thức cho vay khác có mức lãi suất biến động theo thị trường, khi NH thực hiện hoạt động cho vay KHCN họ phải chịu rủi ro về lãi suất nếu chi phí huy động vốn tăng lên. Mặc dù vậy, các khoản vay này thường được định giá rất cao (do đã tính cả một phần bù rủi ro lãi suất) khi đó lãi suất vay vốn trên thị trường và tỷ lệ tổn thất tín dụng đều tăng lên đáng kể dẫn tới khoản cho vay KHCN mới không mang lại lợi nhuận. Một khi nguồn thu nhập được đảm bảo, NH đủ khả năng kiểm soát khoản vay thì lãi suất cho vay sẽ giảm, lúc này rủi ro từ việc cho vay đã giảm xuống.
Giới hạn cho vay KHCN: là khoản tiền tối đa mà NH cho vay KHCN xác định thông qua các yếu tố như: nhu cầu vốn của KH, số vốn tự có của KH, giá trị của TSĐB. Dựa trên hình thức vay vốn các NH sẽ đưa ra quy định riêng đối với các khoản vay thông qua giá trị TSĐB hay nhu cầu vay hợp lý. Trong thực tế, hoạt động cho vay cầm cố thường có giới hạn cao nhất, cụ thể như khi KH cầm cố sổ tiết kiệm, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi có thể được cấp một hạn mức bằng 100% giá trị tài sản cầm cố. Muốn xác định giới hạn cho vay thông qua TSĐB của KH thì NH phải định giá đúng tài sản đó.
Trường hợp tài sản đó được định giá quá thấp thì số tiền KH được vay sẽ giảm, nếu tài sản được định giá quá cao thì NH sẽ gặp rủi ro. Theo đó, NH cần so sánh nhu cầu vay hợp lý (Nhu cầu vay hợp lý = nhu cầu vốn hợp lý - vốn tự có của KH - vốn KH huy động từ nguồn khác) với giới hạn cho vay để đưa ra số tiền cho vay. Trường hợp nhu cầu vay hợp lý cao hơn giới hạn cho vay thì NH sẽ cho KH vay theo giới hạn cho vay, còn nhu cầu vay hợp lý nhỏ hơn giới hạn cho vay thì NH sẽ cho KH vay số tiền theo nhu cầu vay hợp lý của KH. Qua đó có thể giải quyết được nhu cầu vay của KH mà NH cũng đảm bảo an toàn khoản vay (Nguyễn Minh Kiều, 2006).
Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân Vay tiêu dùng Đây là khoản vay nhằm phục vụ nhu cầu chi tiêu cá nhân, hộ gia đình như: cải tạo nhà, mua sắm đồ dùng, học tập, chữa bệnh,…(Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Vay sản xuất kinh doanh Là những khoản vay nhằm bổ sung thêm nguồn vốn phục vụ SXKD, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình như: tăng thêm nguồn vốn lưu động, mua trang thiết bị máy móc, đổi mới cơ sở vật chất phục vụ SXKD (Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Thời gian cho vay Cho vay ngắn hạn Đây là những khoản vay có thời hạn dưới một năm. Thông thường NHTM sẽ là đơn vị cung cấp các khoản vay ngắn hạn cho các DN, ưu điểm của khoản vay này là ít rủi ro về lãi suất và thanh toán so với vay trung và dài hạn.
Khoản vay này thường dùng nhiều trong các hoạt động tài trợ mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các khoản chi phí sản xuất (Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Cho vay trung và dài hạn Hình thức cho vay trung - dài hạn nhằm mục đích hỗ trợ KH trong hoạt động mua sắm, thiết lập TSCĐ. Vì vậy, đối tượng chủ yếu là các DN bị thiếu hụt nguồn vốn trong thời gian nhất định. Vì gắn liền với TSCĐ và vốn cố định của KH nên sẽ gắn liền với những dự án đầu tư.
Mặc dù vậy, tín dụng trung hạn lại tập trung cho đầu tư theo chiều sâu, còn tín dụng dài hạn lại tập trung vào những dự án đầu tư mở rộng (Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Tín dụng trung - dài hạn của NHTM sẽ có thời gian hoàn vốn chậm. Việc thanh toán khoản vay phụ thuộc vào quỹ khấu hao và một phần lợi nhuận của các dự án đem lại. Do đó, KH vay vốn sẽ thanh toán khoản vay theo nhiều đợt khác nhau - thời hạn vay vốn kéo dài nhiều năm.
Tín dụng trung - dài hạn có thời gian vay kéo dài, quy mô tín dụng lớn và rủi ro cao vì sự biến động không ngừng của nền kinh tế. Những biến động của thị trường kinh tế có thể là tiêu cực hoặc tích cực, điều này không thể dự đoán trước được nên những khoản vay dài hạn thường có tính rủi ro cao hơn khoản vay ngắn hạn vì thời 9 gian càng kéo dài thì lãi suất sẽ có nhiều thay đổi. Ngoài ra, mức lãi suất của hình thức cho vay trung - dài hạn thường cao hơn so với lãi suất cho vay ngắn hạn. Do mức độ rủi ro lớn và thời gian thu hồi vốn chậm (Nguyễn Đăng Dờn, 2014).
Các phương thức cho vay khách hàng cá nhân Cho vay từng lần Đối với hình thức vay vốn này, mỗi lần vay KH và NH phải làm một số thủ tục vay vốn cần thiết cũng như ký kết hợp đồng tín dụng (Hoàng Minh, 2007).