QUA TRINH HINH THANH HE THONG THE CHE QUẦN LÝ ĐỠ THỊ Ở VIỆT HAM (TỪ 1945 BEN 2010) Đổ Kiên Viên Việt Nam học và Khoa học Phẩt triển, ĐHQCHN. Mỡ đâu Sơng song với quá trình đồ thị hồn mạnh mẽ wong 2 thip ky gi các đô thị vừa và nhỏ ở Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển toàn điện mang tính đột biến cả về quy mô, tốc độ và chức năng, đem lại một diện mạo. hoàn toàn mới cho dé thy Vist Nam, Thực tẾ này đặt ra một đời hải khách quan về sự phát hiển tương ứng của các thể chế quản lý và định hướng phát triển đồ thị nói chung và đô thị vừa và nhỏ nói riêng ở Việt Nam, TI thông thể chế về độ thị của Nhà nước Việt Nam đang trong quả hình xây dựng và hoàn thiện đã tạo ra hành lang pháp lý cho công tác quản lý đô thị rong bốt cảnh phái triển và hội nhập hiện nay. Tuy nhiên, hệ thẳng nẫy cảm có nhiễu mặt hạn chế, biểu hiện sự chậm trễ và tính dự báo thấp của các quy phạm: Hệ thống luật pháp về quàn lý đô thị chưa đồng bộ, thiếu nhất quần, một số đạo luật quan trọng chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với đặc điểm đô thị Việt Nam; trong hệ thẳng chính sách đã xuất hiện những yến tế ảnh hưởng tiên cực đến phát hiển đã thị, con ling ting trong giải quyết mới quan hệ giữa phát triển đô thị với bảo vệ môi trường và phát triển hiền vững; năng lực kiến tạo và vận hành thể chế của bộ máy quản lý nhà nước về đô thị còn nhữmg hạn chế, tính thích ứng của thể chế trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO vẫn cần mờ nhạt Với mong muốn đưa ra một phác họa khải quát về hệ thắng thể chế pháp luật trong quản lý đô thị nói chung và đô thị vừa và nhỏ nói riêng, chúng tôi sưu (âm và bước đầu phân tích tập hợp 150 văn bàn pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý đô thị được ban hành từ | 665 2B NHM Vi NAM 0c THEO SNH HUCNC UBN NCANH nam 1945 - 2010.
11é thẳng này bao gồm các văn bắn điều chỉnh trong lĩnh: vực đô thị được lưu trữ và công bố chính thức tại 3 nguẫn: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam"; Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Công báo Việt Nam. Các nhận xét, đánh giá của chúng tôi trong bài viết này đền đựa. trên kết quả nghiên cứu bước đầu và việc phân lích định lượng các văn bản. pháp luật tiên.
Khải niệm vẻ đ thị và hệ thẳng thẻ chế pháp luật đủ thị ở Việt Nam 3-1. Khải niệm đỏ thị Một số đồng nghiệp, nhà nghiên cửu nước ngoài khi đến lâm việc tại Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội hay có có thắc mắc với chúng tôi về khái miệm đô thị, quan niệm về đô thị của người Việt Nam (?). Phải chăng đã có sự không đẳng nhất về vẫn đề này? Khải niệm chính thẳng về đỗ thị hay quan niệm về đã thị của Việt Nam xuất phát từ hệ thông các quan điểm chính trị xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lễ Nin. Theo đó, “đê thị” được hiểu theo các tiêu chỉ kinh viên như sau: Theo C.Mác và Ángghen trong tác phẩm “Iư tường Đức” đã cho rằng.
điều kiện quan trọng nhất hình thành đô thị là “Sự phản công lao động, trong một quốc gia dẫn đến việc tách lao động rông nghiệp, thương mại khôi sản xuất nông nghiệp, lừ đó tạo ra hai kiểu phân bố đân cư là đồ thị và nảng thôn, chúng déi lap nhau vé lot ich”. Lé Nin: “Dé thy la trung lam kink 06, chính bị và tình thần của đời sông nhân dân và lä động lực của sự tiến bộ”. Theo VGu— “Thành phố của một chế độ nào đó là một diém dan cư lớn, giưa vai trở là trung lâm chỉnh bị - hành chính, văn hoá và kinh tế có vai trò hip din va thie day ving phụ cần phát triển”. Các quan điểm, thể chế về đô thị vàphái triển đô thị của Việt Nam đêu.
được xây đựng và kế thừa trên nền tảng các luận điểm trên. Được tìm thấy lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức. chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phể đến khái niệm chính thức 1 Hb/Awwevietiowguvvn.vn 666| 28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE vé dé thị của nhà nước Việt Nam hiện nay dược nêu tại Luật Quy hoạch đỏ thi! va Théng tut 34/2009/1T-BXD* ngày 30/9/2009 quy định chỉ tiết một số nội dụng của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/3009 của Chính phú về xiệc phân loại đô thị nhu sau: “Độ l khả vực lập trung dân cư sinh sống có một độ cao và chủ yến hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trưng tầm chính trụ hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trỏ thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thể, một địa. phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xả; thị rắn”.
Hệ thông nừn bản quy phim pháp luật tê quản tý đô thị Văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam là một hệ thẳng nhiễu tầng, bậc phức tạp, là sự cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Nhà nước mà trước hết là cụ thể hóa đường lỗi của Đáng Cộng sản Việt Nam thông qua các nghị quyết của đảng. Hệ thống phầp lnật về đỗ thị không nằm ngoài đặc điểm đó Các ván bản có hiệu lực cao nhất điển chỉnh các quan hệ trong quản lý đô thị do Quốc hội bạn hành gồm Hiển pháp, Luậi, Bộ luật, Nghị quyết và van bản do Uỷ bạn thưởng và Quốc hội ban hành gằm Pháp lệnh, Nghị quyết. Tiếp theo là văn bản do các cơ quan Nhà nước ở Trung ương ban hành để thì hành vần bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, ý ban thường vụ Quốc hội bao gồm các Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị quyết, nghị dịnh của Chính phú; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, (chi thi), thông tư của Bộ trường, Thủ trưởng cơ quan ngàng, BQ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết, thông tư hiền tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội; Vấn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tình, thành phổ trực thuộc trưng vương ban hành để thủ hành ván bản quy phạm pháp luật cla Quéchdi, Uy ban thưởng vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; Vấn ban do Uy ban ahan dan ban hành còn để thì hành Nghị quyết của Hội đẳng nhân dân cùng cấp như Nghị quyết của Tội đẳng nhân dẫn; quyết định, chỉ thị của Ủý bạn nhân dân. 1 Điễu 3, khoán Í Tuệ Quy hoạch đồ thị: 2008A3H12 ngày 19/6/2008.
Điều [ Thong Iưr34/200%/TT-DXD ngây 30/9/2009 quy dịnh chỉ tiết rhội số nội dung của Ngủ định 422008/NĐ-CP ngày 0/8/2008 của Chính phố về ve phẩm lon độ thí | 867 28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE được 18 văn bán pháp luật về đã thị trong giai đoạn 1945 ~ 1975, Kết quả phân tích định lượng cho thấy, theo thời gian, trước năm 1959, thực hiện hiệu lực của Hiễn pháp 1946, các văn bản về đô thị hoàn toàn để cập đến. việc xây dựng, tổ chức và quản lý bộ máy chính quyền các thành phố, thị xă, thị trần. Không có chế định về các lĩnh vực chuyên môn khác. Điều đó cho thấy, sự giản đơn của các đô thị Việt Nam, nhất 14 các đô thị vừa và nhà.
Dưỡng như, ngoài chức năng trang lâm chính trị và hành chính khu vực, các đô thị chưa hẳn là nơi lập trung đân cơ thal sự đồng đúc với đời sống sinh hoạt thủ dan và các đặc điểm phức tạp đòi hỏi phải điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp hiật. Sau năm 1959 đến 1975, thực hiện hiện lực. của Hiến pháp 1959, các văn bản pháp luật về quản lý đồ thị chủ yếu tập. trưng vào hai lĩnh vực là đất đai và nhà ờ đô thị.
Cụ thể, các chế định về đất đai chiếm tỷ lệ 17%, về nhà ở chiếm ñ0% Lổng số các văn bản pháp luật được bạn hành, Diễn này che thấy rằng các đỏ thị đã có sự phát tiển và biễn đổi tất rõ nét về mật độ dân số. Tính chất, giá trị của các yấn tỗ đã thị đã tăng lên đáng kế Bảng l: Cơ cấu các văn bản phápluật về đồ thị (1945 — 1975) theo thể thức văn bản Hình thức | Luật |Säc lệnh. Nghị Quyết |Nghị định | Thông tư | Quyết định [Công văn |Chỉ thị 1Ì 5 1 3 6 0 1 1 Tỷlệ% | S6 | 278 56 167 | 3343 0 56 | 56 Bang 2: Cơ cầu các văn bản pháp luật về đỡ thị (1945 — 1975) theo thẩm quyền ban hành: Thẩm | Quốchội | Chính phủ Cáchộ | Thủ tướng | Khác | Chủtịh | Ban quyền nước - | Bíthư Số lượng 1 3 5 1 1 5 2 Tylậ% 56 ló7 — 272 56 | 56 | 278 nt tụ 3: Cơ cầu các vần bản pháp luật về đô thị (1945 — 1975) theo lĩnh vực điều chỉnh Linh vực điểu chỉnh | Tổ chúcchính quyển Đất đai Nha Số lượng 6 3 9 Tỷ lậ% 3 17 50 1 641 28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE được 18 văn bán pháp luật về đã thị trong giai đoạn 1945 ~ 1975, Kết quả phân tích định lượng cho thấy, theo thời gian, trước năm 1959, thực hiện hiệu lực của Hiễn pháp 1946, các văn bản về đô thị hoàn toàn để cập đến. việc xây dựng, tổ chức và quản lý bộ máy chính quyền các thành phố, thị xă, thị trần.
Không có chế định về các lĩnh vực chuyên môn khác. Điều đó cho thấy, sự giản đơn của các đô thị Việt Nam, nhất 14 các đô thị vừa và nhà. Dưỡng như, ngoài chức năng trang lâm chính trị và hành chính khu vực, các đô thị chưa hẳn là nơi lập trung đân cơ thal sự đồng đúc với đời sống sinh hoạt thủ dan và các đặc điểm phức tạp đòi hỏi phải điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp hiật. Sau năm 1959 đến 1975, thực hiện hiện lực.
của Hiến pháp 1959, các văn bản pháp luật về quản lý đồ thị chủ yếu tập. trưng vào hai lĩnh vực là đất đai và nhà ờ đô thị.