CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 1.1 Xây dựng đô thị 1.1 Khái niệm về đô thị và xây dựng đô thị 1.1 Khái niệm về đô thị Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội nước ta, đã có nhiều khái niệm về đô thị đã được đưa ra. Năm 1990 tại thông tư 31/TTLT của Bộ Xây dựng – Ban Tổ chức cán bộ của Chính phủ ngày 20/11/1990 hướng dẫn thực hiện QĐ 132-HDBT ngày 05/05/1990 về phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị đưa ra khái niệm đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện [1]. Đến năm 2009 theo Thông tư 34/2009/TT-BXD quy định đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [2]. Cùng với sự nghiên cứu của mình, TS.Phạm Trọng Mạnh cũng đã đưa ra khái niệm đô thị là những điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4.000 người (đối với miền núi là 2.000 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% [3].
Đất nước ta đang trải qua tiến trình phát triển đô thị và đô thị hóa với quy mô chưa từng thấy trong lịch sử. Các thành phố trở thành tâm điểm của công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đồng thời cũng là tâm điểm của những rắc rối về môi 4 trường, cơ sở hạ tầng, nhà ở và phúc lợi xã hội… Đô thị không chỉ là tập hợp của những ngôi nhà và những con đường. Quan trọng hơn, đô thị là nơi tập hợp của những con người tương tác với nhau trong một môi trường đông đúc và chật hẹp.2 Phân loại đô thị Việt Nam đang có tốc độ đô thị hóa nhanh chóng cả về không gian và dân số, và đang ở mức cao so với các nước khác trong khu vực. Phân loại đô thị có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy hệ thống đô thị quốc gia tăng trưởng bền vững.
Trước đây, việc phân loại đô thị được thực hiện theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ. Tiếp đó, các đô thị tại Việt Nam được phân loại dựa theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009. Và gần đây nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị. Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng.
Do đó, các đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V. Trong đó đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I và đô thị loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận. Trong Nghị quyết cũng đưa ra 5 tiêu chí cơ bản để đánh giá phân loại đô thị gồm: - Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; - Quy mô dân số; - Mật độ dân số; - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; - Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị. Việc phân cấp quản lý hành chính đô thị được xác định: 5 - Thành phố trực thuộc trung ương được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I.
- Thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại I hoặc đô thị loại II hoặc đô thị loại III. - Thị xã được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại III hoặc đô thị loại IV. - Thị trấn được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại IV hoặc đô thị loại V. - Khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng.
Phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo.3 Khái niệm về xây dựng đô thị Theo quy định tại Khoản 21 Điều 3 Luật xây dựng số 50/2014/QH13: Hoạt động xây dựng gồm là “lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình.”[5] Như vậy, đối tượng của xây dựng đô thị là toàn bộ những hoạt động xây dựng tại hoặc có liên quan đến địa bàn đô thị. Trong đó, hoạt động quy hoạch xây dựng (QHXD) có vị trí đầu tiên trong dây truyền. Đây là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ. Nó cùng là việc làm nhằm đảm bảo kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy, công tác quản lý QHXD và kiến trúc đô thị có tầm quan trọng đặc biệt để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của QHXD góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường theo hướng bền vững và tạo bộ mặt kiến 6 trúc đô thị có thẩm mỹ 1.2 Vai trò của công trình đô thị Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Công trình đô thị là những công trình được xây dựng tại đô thị bao gồm: công trình công cộng, công trình giao thông, các công trình đầu mối kỹ thuật và các công trình đường dây, cáp, đường ống kỹ thuật ngầm, hào và tuynen kỹ thuật. Công trình đô thị là nền tảng của phát triển kinh tế đô thị việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
Phù hợp với sự phát triển của các ngành kinh tế trên địa bàn đô thị, hoạch định hướng đi cụ thể, xác định không gian cụ thể cho các ngành kinh tế phát triển. Giải quyết tốt mối quan hệ trong phát triển kinh tế của các ngành tạo thành nền kinh tế đô thị vững chắc. Xây dựng công trình đô thị hơp lý sẽ tập hợp được các nguồn lực phát triển hợp lý các ngành, thúc đẩy quá trình đô thị hóa và là căn cứ quan trọng để cấp phép đầu tư xây dựng đô thị. Trên cơ sở đó các nhà đầu tư xây dựng công trình theo mục đích sử dụng và kinh doanh của mình.
Đây là giai đoạn cụ thể hóa quy hoạch trên thực địa, nó góp phần thức đẩy quá trình đô thị hóa hiện thực.3 Phân loại công trình xây dựng đô thị * Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 phân loại công trình xây dựng như sau: - Loại công trình được xác định theo công năng sử dụng gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển 7 nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc phòng, an ninh. + Công trình dân dụng: Gồm nhà ở và công trình công cộng, trong đó: Nhà ở gồm nhà chung cư và nhà riêng lẻ; Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa, công trình giáo dục; công trình y tế; công trình thương nghiệp, dịch vụ; nhà làm việc; khách sạn, nhà khách; nhà phục vụ giao thông; nhà phục vụ thông tin liên lạc, thu phát sóng phát thanh, phát sóng truyền hình, nhà ga, bến xe; công trình thể thao các loại. + Công trình công nghiệp: Gồm công trình khai thác than; khai thác quặng; công trình khai thác dầu, khí; công trình hóa chất, hóa dầu; công trình kho xăng, dầu, khí hóa lỏng và tuyến ống phân phối khí, dầu; công trình luyện kim; công trình cơ khí, chế tạo; công trình điện tử - tin học; công trình năng lượng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình công nghiệp thực phẩm; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công trình sản xuất và kho chứa vật liệu nổ công nghiệp. + Công trình giao thông gồm: Công trình đường bộ; công trình đường sắt; công trình đường thủy; cầu; hầm; sân bay.
+ Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn gồm: hồ chứa nước; đập; cống; trạm bơm; giếng; đường ống dẫn nước; kênh; công trình trên kênh và bờ bao các loại.