Luận văn: Thực trạng, giải pháp quản lý TTXD đô thị huyện Mai Sơn, Sơn La

Tài liệu nghiên cứu Tài liệu luận văn thực trạng công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn huyện, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kỹ

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Chuyên ngành

Quản lý đô thị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2018

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ

1.1. Xây dựng đô thị

1.1.1. Khái niệm về đô thị và xây dựng đô thị

1.1.2. Vai trò của công trình đô thị

1.1.3. Phân loại công trình xây dựng đô thị

1.2. Quản lý trật tự xây dựng đô thị

1.2.1. Đặc điểm và tính chất của công trình xây dựng đô thị

1.2.2. Nội dung công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị

1.2.3. Hình thức quản lý trật tự xây dựng đô thị

1.2.4. Vai trò quản lý nhà nước các công trình xây dựng đô thị

1.2.5. Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị

1.3. Những nhân tố ảnh hưởng trong quản lý trật tự xây dựng đô thị

1.3.1. Nhân tố khách quan

1.3.2. Nhân tố chủ quan

1.4. Kinh nghiệm về quản lý trật tự xây dựng đô thị ở một số địa phương

1.4.1. Kinh nghiệm về quản lý trật tự xây dựng đô thị tại huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh hóa

1.4.2. Kết quả quản lý trật tự xây dựng tại huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

1.4.3. Kết quả quản lý trật tự xây dựng tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

1.4.4. Kinh nghiệm về quản lý trật tự xây dựng đô thị tại huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La

1.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

2.1. Giới thiệu chung về huyện Mai Sơn

2.1.1. Tình hình Kinh tế - xã hội huyện Mai Sơn

2.1.2. Tình hình xây dựng đô thị tại huyện Mai Sơn

2.2. Thực trạng quản lý trật tự xây dựng đô thị tại huyện Mai Sơn

2.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trật tự xây dựng tại huyện Mai Sơn

2.2.2. Thực trạng công tác cấp phép xây dựng trên địa bàn huyện Mai Sơn

2.2.3. Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra trật tự xây dựng tại huyện Mai Sơn

2.2.4. Thực trạng xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị tại huyện Mai Sơn

2.2.5. Thực trạng xử lý đơn thư khiếu nại trật tự xây dựng đô thị tại huyện Mai Sơn

2.3. Đánh giá thực trạng quản lý trật tự xây dựng đô thị tại huyện Mai Sơn

2.3.1. Những kết quả đạt được

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

3.1. Định hướng phát triển huyện Mai Sơn

3.1.1. Định hướng quy hoạch xây dựng đô thị huyện Mai Sơn

3.1.2. Mục tiêu quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Mai Sơn

3.2. Nguyên tắc đề xuất giải pháp

3.3. Đề xuất giải pháp đẩy mạnh công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn huyện Mai Sơn

3.3.1. Giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý trật tự xây dựng đô thị

3.3.2. Giải pháp tăng cường công tác quản lý cấp phép xây dựng

3.3.3. Giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động xây dựng

3.3.4. Giải pháp tăng cường công tác xử lý vi phạm TTXD

3.3.5. Giải pháp tăng cường công tác xử lý đơn thư khiếu nại

3.3.6. Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trật tự xây dựng đô thị

3.3.7. Nhóm giải pháp khác

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan công tác quản lý TTXD đô thị tại Mai Sơn

Công tác quản lý trật tự xây dựng (TTXD) đô thị tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là một nhiệm vụ trọng tâm, gắn liền với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ của địa phương. Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học mang tính cấp thiết, phản ánh nỗ lực của chính quyền trong việc định hình một không gian đô thị văn minh, hiện đại. Về cơ sở lý luận, quản lý nhà nước về xây dựng bao gồm toàn bộ các hoạt động từ lập quy hoạch, cấp phép xây dựng, giám sát thi công đến xử lý vi phạm xây dựng. Mục tiêu chính là đảm bảo mọi công trình được xây dựng theo đúng quy hoạch đã duyệt, tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật và không xâm phạm đến lợi ích công cộng. Vai trò này đặc biệt quan trọng tại Mai Sơn, một huyện đang chuyển mình với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, điển hình là thị trấn Hát Lót được công nhận đô thị loại IV. Sự phát triển này đặt ra yêu cầu cao về hiệu quả quản lý xây dựng, đòi hỏi một hệ thống cơ sở pháp lý quản lý TTXD rõ ràng và một bộ máy thực thi đủ năng lực. Luận văn gốc của tác giả Vũ Huy Cường đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, chỉ ra rằng quản lý TTXD không chỉ là nhiệm vụ của ngành xây dựng mà còn là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó nổi bật là vai trò của chính quyền địa phương.

1.1. Cơ sở pháp lý và vai trò quản lý nhà nước về xây dựng

Hệ thống pháp luật là nền tảng cho mọi hoạt động quản lý. Công tác quản lý TTXD đô thị tại Mai Sơn dựa trên các văn bản luật pháp quan trọng như Luật Xây dựng 2014, Nghị định 180/2007/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn của tỉnh Sơn La. Các quy định này xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp chính quyền, từ UBND tỉnh đến UBND huyện và xã. Quản lý nhà nước về xây dựng không chỉ dừng lại ở việc cấp phép mà còn bao gồm cả quá trình hậu kiểm, đảm bảo công trình tuân thủ giấy phép và quy hoạch. Vai trò của chính quyền địa phương được thể hiện qua việc tổ chức bộ máy chuyên trách, công khai các đồ án quy hoạch và xử lý kịp thời các vi phạm, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đây là yếu tố then chốt để xây dựng một đô thị trật tự và bền vững.

1.2. Tổng quan kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quy hoạch

Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Mai Sơn giai đoạn 2016-2018 cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu tích cực. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng vượt bậc, từ 2.106 tỷ đồng (2016) lên 2.086 tỷ đồng (2018). Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, đặc biệt tại thị trấn Hát Lót và các cụm dân cư dọc Quốc lộ 6, đã tạo áp lực lớn lên công tác quản lý đất đai và xây dựng. Nhu cầu về nhà ở, cơ sở dịch vụ tăng cao dẫn đến các hoạt động xây dựng diễn ra sôi nổi. Điều này đòi hỏi công tác quy hoạch đô thị Mai Sơn phải đi trước một bước, dự báo được xu hướng phát triển để bố trí không gian hợp lý, tránh tình trạng phát triển tự phát, phá vỡ cảnh quan và gây quá tải hạ tầng. Việc quản lý TTXD phải gắn liền với thực tiễn phát triển kinh tế, vừa tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp, vừa đảm bảo trật tự chung.

II. Phân tích thách thức trong quản lý TTXD đô thị Mai Sơn

Thực trạng quản lý trật tự xây dựng tại huyện Mai Sơn giai đoạn 2016-2018 bộc lộ nhiều thách thức lớn, phản ánh những bất cập giữa tốc độ phát triển và năng lực quản lý. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, tình trạng xây dựng không phép, sai phép vẫn diễn ra phức tạp. Luận văn chỉ ra rằng, trong 3 năm, toàn huyện đã phát hiện hàng trăm trường hợp vi phạm TTXD. Nguyên nhân của những tồn tại này đến từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, nhận thức của một bộ phận người dân về pháp luật xây dựng còn hạn chế, hệ thống hạ tầng chưa đồng bộ. Về chủ quan, bộ máy quản lý còn mỏng, năng lực của một số cán bộ chuyên trách chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác phối hợp giữa phòng Quản lý đô thị, đội thanh tra xây dựng và UBND cấp xã đôi khi chưa chặt chẽ, dẫn đến việc phát hiện và xử lý vi phạm xây dựng còn chậm trễ. Đặc biệt, việc thiếu các quy hoạch chi tiết 1/500 và quy chế quản lý kiến trúc tại nhiều khu vực đã gây khó khăn cho cả công tác cấp phép xây dựng và kiểm tra sau cấp phép. Đây là những nút thắt cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng.

2.1. Thực trạng cấp phép và xử lý vi phạm xây dựng

Số liệu từ luận văn cho thấy, giai đoạn 2016-2018, huyện Mai Sơn đã cấp hàng trăm giấy phép xây dựng (GPXD). Tuy nhiên, công tác kiểm tra sau cấp phép lại là một điểm yếu. Thống kê chỉ ra một tỷ lệ không nhỏ các công trình xây dựng sai nội dung giấy phép hoặc không có giấy phép. Biểu đồ trong luận văn cho thấy rõ tình trạng này, với các vi phạm phổ biến như xây vượt tầng, sai cốt nền, lấn chiếm không gian. Công tác xử lý vi phạm xây dựng dù đã được thực hiện nhưng chưa triệt để. Một số trường hợp bị lập biên bản nhưng chậm ban hành quyết định xử phạt hoặc chậm tổ chức cưỡng chế, làm giảm tính răn đe. Thực trạng này đòi hỏi phải có sự quyết liệt hơn từ các cơ quan chức năng.

2.2. Những tồn tại về bộ máy và công tác phối hợp

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý TTXD đô thị tại Mai Sơn được phân cấp rõ ràng, tuy nhiên vẫn còn tồn tại hạn chế. Theo bảng 2.5 và 2.6 của luận văn, nhân sự tại phòng Quản lý đô thị và đội Thanh tra xây dựng còn mỏng so với khối lượng công việc trên địa bàn rộng lớn. Trình độ chuyên môn của cán bộ cấp xã, những người trực tiếp giám sát tại cơ sở, còn chưa đồng đều. Sự phối hợp giữa các đơn vị đôi khi còn mang tính hình thức, thiếu cơ chế chia sẻ thông tin hiệu quả. Ví dụ, khi phát hiện vi phạm, quy trình chuyển hồ sơ từ xã lên huyện để xử lý theo thẩm quyền còn rườm rà, gây chậm trễ. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng một số vi phạm kéo dài, gây khó khăn cho công tác xử lý sau này.

III. Hướng dẫn hoàn thiện cơ cấu quản lý TTXD đô thị Mai Sơn

Để giải quyết các bất cập hiện tại, việc đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống là vô cùng cần thiết. Một trong những giải pháp trọng tâm được khóa luận tốt nghiệp quản lý xây dựng này đề xuất là hoàn thiện cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực bộ máy. Điều này không chỉ là việc tăng biên chế mà là một cuộc cải tổ toàn diện về chức năng, nhiệm vụ và quy trình làm việc. Cần xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng đơn vị trong chuỗi quản lý nhà nước về xây dựng. Đặc biệt, vai trò của chính quyền địa phương cấp xã phải được đề cao, trao đủ thẩm quyền và nguồn lực để trở thành “tai mắt” đầu tiên phát hiện và ngăn chặn vi phạm ngay từ khi mới manh nha. Việc kiện toàn đội ngũ thanh tra xây dựng cần đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên, cập nhật các quy định pháp luật mới. Một cơ cấu tổ chức tinh gọn, hiệu quả và có sự phối hợp nhịp nhàng sẽ là nền tảng vững chắc cho việc phát triển đô thị bền vững tại Mai Sơn trong tương lai.

3.1. Kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực cán bộ

Giải pháp đầu tiên là rà soát, đánh giá lại toàn bộ nhân sự đang làm công tác quản lý TTXD. Cần xây dựng bản mô tả công việc rõ ràng cho từng vị trí từ cấp huyện đến cấp xã. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về pháp luật xây dựng, kỹ năng thanh tra, kiểm tra và lập hồ sơ xử lý vi phạm. Đề xuất bổ sung biên chế cho các đơn vị chủ chốt như đội Thanh tra xây dựng để đảm bảo đủ lực lượng tuần tra, giám sát địa bàn. Đồng thời, cần có cơ chế khen thưởng, kỷ luật rõ ràng để khuyến khích cán bộ làm tốt và xử lý nghiêm những cá nhân buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm.

3.2. Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành hiệu quả

Một quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài nguyên & Môi trường, Đội Thanh tra xây dựng và UBND các xã, thị trấn là yêu cầu bắt buộc. Quy chế này cần quy định rõ luồng thông tin, thời gian xử lý và trách nhiệm của mỗi bên trong từng giai đoạn: từ khi tiếp nhận hồ sơ cấp phép xây dựng, kiểm tra hiện trạng, đến khi phát hiện và xử lý vi phạm xây dựng. Việc ứng dụng phần mềm dùng chung để quản lý hồ sơ và theo dõi tiến độ xử lý vi phạm sẽ giúp tăng tính minh bạch và hiệu quả, phá vỡ tình trạng cát cứ thông tin giữa các phòng ban, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng tổng thể.

IV. Top giải pháp tăng cường thanh tra xử lý vi phạm TTXD

Bên cạnh việc hoàn thiện bộ máy, các giải pháp tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật là yếu tố quyết định. Luận văn đề xuất một nhóm giải pháp tập trung vào việc siết chặt kỷ cương trong hoạt động xây dựng. Cần đẩy mạnh công tác thanh tra xây dựng theo kế hoạch và đột xuất, đặc biệt tại các khu vực đang có tốc độ đô thị hóa nhanh. Việc xử lý vi phạm xây dựng phải được thực hiện một cách kiên quyết, công khai và minh bạch để tạo tính răn đe. Mọi công trình vi phạm, dù lớn hay nhỏ, đều phải bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật, tránh tình trạng “phạt cho tồn tại”. Song song đó, việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân là vô cùng quan trọng. Khi người dân hiểu rõ quy định về cấp phép xây dựng và các chế tài xử phạt, họ sẽ chủ động tuân thủ, góp phần giảm thiểu vi phạm. Sự kết hợp giữa “xây” và “chống”, giữa tuyên truyền và cưỡng chế, sẽ tạo ra một môi trường xây dựng lành mạnh, góp phần thực hiện thành công mục tiêu quy hoạch đô thị Mai Sơn.

4.1. Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra hoạt động xây dựng

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ hàng tuần, hàng tháng đối với các công trình xây dựng trên địa bàn. Phân công rõ trách nhiệm giám sát theo khu vực cho từng cán bộ. Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để phát hiện sớm các hành vi vi phạm như xây dựng không phép, sai phép, lấn chiếm chỉ giới. Hồ sơ kiểm tra phải được lập chi tiết, có hình ảnh minh chứng cụ thể. Việc tăng cường sự hiện diện của lực lượng thanh tra xây dựng trên thực địa sẽ có tác dụng phòng ngừa vi phạm hiệu quả, buộc các chủ đầu tư phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định.

4.2. Giải pháp xử lý đơn thư và khiếu nại dứt điểm

Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến TTXD là một phần quan trọng của công tác quản lý. Luận văn đề xuất quy trình xử lý đơn thư cần được chuẩn hóa, đảm bảo nhanh chóng và đúng pháp luật. Cần thành lập bộ phận tiếp nhận và xử lý đơn thư chuyên trách. Mọi phản ánh của người dân về các công trình vi phạm cần được xác minh và trả lời bằng văn bản trong thời gian quy định. Việc giải quyết dứt điểm các khiếu nại không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân mà còn củng cố niềm tin của nhân dân vào vai trò của chính quyền địa phương.

V. Bí quyết ứng dụng công nghệ trong quản lý TTXD đô thị

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp đột phá để nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng. Đây là một trong những đề xuất có tính mới và thực tiễn cao trong luận văn. Việc xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa về quản lý đô thị sẽ giúp các nhà quản lý truy xuất thông tin về quy hoạch, giấy phép xây dựng, hồ sơ vi phạm một cách nhanh chóng và chính xác. Hệ thống này có thể tích hợp bản đồ GIS (Hệ thống thông tin địa lý) để trực quan hóa dữ liệu, giúp việc theo dõi các công trình xây dựng trên địa bàn trở nên dễ dàng hơn. Người dân cũng có thể tra cứu thông tin quy hoạch, nộp hồ sơ xin cấp phép xây dựng trực tuyến, góp phần tăng tính minh bạch và giảm thiểu tiêu cực. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ tối ưu hóa quy trình làm việc nội bộ mà còn tạo ra một kênh tương tác hiệu quả giữa chính quyền và người dân, hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững và thông minh.

5.1. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa về quy hoạch

Số hóa toàn bộ các đồ án quy hoạch đô thị Mai Sơn đã được phê duyệt và tích hợp lên nền tảng bản đồ GIS. Mỗi thửa đất sẽ được gắn các thông tin cụ thể về chức năng sử dụng, mật độ xây dựng, tầng cao tối đa, chỉ giới xây dựng. Hệ thống này cho phép cán bộ quản lý và người dân dễ dàng tra cứu thông tin chỉ bằng vài cú nhấp chuột, đảm bảo tính công khai, minh bạch của quy hoạch. Đây là công cụ đắc lực hỗ trợ công tác thẩm định hồ sơ cấp phép xây dựng và kiểm tra sự tuân thủ quy hoạch.

5.2. Phát triển phần mềm quản lý và giám sát xây dựng

Phát triển một phần mềm chuyên dụng để quản lý toàn bộ vòng đời của một công trình, từ khâu cấp phép, khởi công, thi công đến nghiệm thu. Cán bộ thanh tra xây dựng có thể sử dụng thiết bị di động để cập nhật hình ảnh, biên bản kiểm tra tại hiện trường lên hệ thống theo thời gian thực. Phần mềm cũng có thể tích hợp tính năng cảnh báo tự động khi một công trình có dấu hiệu vi phạm hoặc sắp hết hạn giấy phép. Công cụ này sẽ giúp chuẩn hóa quy trình, nâng cao trách nhiệm của cán bộ và tạo ra một cơ sở dữ liệu đầy đủ, tin cậy phục vụ công tác quản lý nhà nước về xây dựng.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 1.1 Xây dựng đô thị 1.1 Khái niệm về đô thị và xây dựng đô thị 1.1 Khái niệm về đô thị Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội nước ta, đã có nhiều khái niệm về đô thị đã được đưa ra. Năm 1990 tại thông tư 31/TTLT của Bộ Xây dựng – Ban Tổ chức cán bộ của Chính phủ ngày 20/11/1990 hướng dẫn thực hiện QĐ 132-HDBT ngày 05/05/1990 về phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị đưa ra khái niệm đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện [1]. Đến năm 2009 theo Thông tư 34/2009/TT-BXD quy định đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [2]. Cùng với sự nghiên cứu của mình, TS.Phạm Trọng Mạnh cũng đã đưa ra khái niệm đô thị là những điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4.000 người (đối với miền núi là 2.000 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% [3].

Đất nước ta đang trải qua tiến trình phát triển đô thị và đô thị hóa với quy mô chưa từng thấy trong lịch sử. Các thành phố trở thành tâm điểm của công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đồng thời cũng là tâm điểm của những rắc rối về môi 4 trường, cơ sở hạ tầng, nhà ở và phúc lợi xã hội… Đô thị không chỉ là tập hợp của những ngôi nhà và những con đường. Quan trọng hơn, đô thị là nơi tập hợp của những con người tương tác với nhau trong một môi trường đông đúc và chật hẹp.2 Phân loại đô thị Việt Nam đang có tốc độ đô thị hóa nhanh chóng cả về không gian và dân số, và đang ở mức cao so với các nước khác trong khu vực. Phân loại đô thị có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy hệ thống đô thị quốc gia tăng trưởng bền vững.

Trước đây, việc phân loại đô thị được thực hiện theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ. Tiếp đó, các đô thị tại Việt Nam được phân loại dựa theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009. Và gần đây nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị. Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng.

Do đó, các đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V. Trong đó đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I và đô thị loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận. Trong Nghị quyết cũng đưa ra 5 tiêu chí cơ bản để đánh giá phân loại đô thị gồm: - Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; - Quy mô dân số; - Mật độ dân số; - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; - Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị. Việc phân cấp quản lý hành chính đô thị được xác định: 5 - Thành phố trực thuộc trung ương được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I.

- Thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại I hoặc đô thị loại II hoặc đô thị loại III. - Thị xã được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại III hoặc đô thị loại IV. - Thị trấn được phân loại đô thị theo tiêu chí đô thị loại IV hoặc đô thị loại V. - Khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng.

Phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo.3 Khái niệm về xây dựng đô thị Theo quy định tại Khoản 21 Điều 3 Luật xây dựng số 50/2014/QH13: Hoạt động xây dựng gồm là “lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình.”[5] Như vậy, đối tượng của xây dựng đô thị là toàn bộ những hoạt động xây dựng tại hoặc có liên quan đến địa bàn đô thị. Trong đó, hoạt động quy hoạch xây dựng (QHXD) có vị trí đầu tiên trong dây truyền. Đây là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ. Nó cùng là việc làm nhằm đảm bảo kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.

Chính vì vậy, công tác quản lý QHXD và kiến trúc đô thị có tầm quan trọng đặc biệt để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của QHXD góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường theo hướng bền vững và tạo bộ mặt kiến 6 trúc đô thị có thẩm mỹ 1.2 Vai trò của công trình đô thị Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Công trình đô thị là những công trình được xây dựng tại đô thị bao gồm: công trình công cộng, công trình giao thông, các công trình đầu mối kỹ thuật và các công trình đường dây, cáp, đường ống kỹ thuật ngầm, hào và tuynen kỹ thuật. Công trình đô thị là nền tảng của phát triển kinh tế đô thị việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

Phù hợp với sự phát triển của các ngành kinh tế trên địa bàn đô thị, hoạch định hướng đi cụ thể, xác định không gian cụ thể cho các ngành kinh tế phát triển. Giải quyết tốt mối quan hệ trong phát triển kinh tế của các ngành tạo thành nền kinh tế đô thị vững chắc. Xây dựng công trình đô thị hơp lý sẽ tập hợp được các nguồn lực phát triển hợp lý các ngành, thúc đẩy quá trình đô thị hóa và là căn cứ quan trọng để cấp phép đầu tư xây dựng đô thị. Trên cơ sở đó các nhà đầu tư xây dựng công trình theo mục đích sử dụng và kinh doanh của mình.

Đây là giai đoạn cụ thể hóa quy hoạch trên thực địa, nó góp phần thức đẩy quá trình đô thị hóa hiện thực.3 Phân loại công trình xây dựng đô thị * Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 phân loại công trình xây dựng như sau: - Loại công trình được xác định theo công năng sử dụng gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển 7 nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc phòng, an ninh. + Công trình dân dụng: Gồm nhà ở và công trình công cộng, trong đó: Nhà ở gồm nhà chung cư và nhà riêng lẻ; Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa, công trình giáo dục; công trình y tế; công trình thương nghiệp, dịch vụ; nhà làm việc; khách sạn, nhà khách; nhà phục vụ giao thông; nhà phục vụ thông tin liên lạc, thu phát sóng phát thanh, phát sóng truyền hình, nhà ga, bến xe; công trình thể thao các loại. + Công trình công nghiệp: Gồm công trình khai thác than; khai thác quặng; công trình khai thác dầu, khí; công trình hóa chất, hóa dầu; công trình kho xăng, dầu, khí hóa lỏng và tuyến ống phân phối khí, dầu; công trình luyện kim; công trình cơ khí, chế tạo; công trình điện tử - tin học; công trình năng lượng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình công nghiệp thực phẩm; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công trình sản xuất và kho chứa vật liệu nổ công nghiệp. + Công trình giao thông gồm: Công trình đường bộ; công trình đường sắt; công trình đường thủy; cầu; hầm; sân bay.

+ Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn gồm: hồ chứa nước; đập; cống; trạm bơm; giếng; đường ống dẫn nước; kênh; công trình trên kênh và bờ bao các loại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ