Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62 31 06 40) của tác giả Lê Thị Thu Hiền có tiêu đề: Biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa, được hoàn thành tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Quang Thanh.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quy luật vận động và biến đổi văn hóa trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam. Đà Nẵng là một trong những đô thị có tốc độ đô thị hóa và chỉnh trang không gian nhanh chóng, đồng thời triển khai chiến lược phát triển kinh tế biển. Quá trình này đã tác động mạnh mẽ đến lối sống và các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng ngư dân ven biển. Mặt khác, nguồn ngân sách hàng năm của thành phố dành cho hoạt động văn hóa chỉ chiếm 0,9% (thấp hơn mức quy định là 1,8% GDP của tỉnh/thành phố), dẫn tới công tác nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa chưa được quan tâm tương xứng, khiến các giá trị tín ngưỡng dân gian ven biển đứng trước nguy cơ mai một. Việc nghiên cứu biến đổi tín ngưỡng vừa đáp ứng yêu cầu thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:
- Phản ánh diện mạo tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng, làm rõ thực trạng và những biến đổi trong quá trình đổi mới và đô thị hóa từ năm 2003 đến năm 2017.
- Chỉ ra các tác nhân dẫn đến sự biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong bối cảnh đô thị hóa.
- Nhận định, đánh giá các xu hướng biến đổi của tín ngưỡng ven biển nhằm cung cấp cơ sở cho các chính sách bảo tồn, định hướng văn hóa phát triển bền vững.
Giả thuyết nghiên cứu xác định: Tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng ngày càng thay đổi sâu sắc khi đô thị hóa được đẩy mạnh; tuy nhiên, trong quá trình đó vẫn tồn tại những thành tố tín ngưỡng không biến đổi, mang tính bền vững và phản ánh bản sắc văn hóa truyền thống.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm bốn vấn đề:
- Diện mạo tín ngưỡng truyền thống của cư dân ven biển Đà Nẵng được định hình như thế nào?
- Trong quá trình đô thị hóa hiện nay, tín ngưỡng đó đã biến đổi ra sao?
- Những nhân tố nào của đô thị hóa đã tác động và dẫn đến sự biến đổi trong tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng?
- Xu hướng biến đổi của tín ngưỡng cư dân ven biển Đà Nẵng sẽ diễn tiến theo các chiều hướng nào?
Đối tượng nghiên cứu là tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong bối cảnh đô thị hóa, cụ thể gồm: không gian thờ tự, đối tượng thờ tự, hệ thống nghi lễ, bộ phận phụ trách thực hành tín ngưỡng, niềm tin và hành vi thực hành của người dân.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các khu vực dân cư ven biển Đà Nẵng, khảo sát chuyên sâu tại ba địa bàn đại diện: làng Nam Thọ (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà), làng Mỹ Khê (phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà) và làng Thanh Khê (phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê).
- Thời gian: Trọng tâm từ năm 2003 (thời điểm Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1) đến năm 2017, kết hợp tham chiếu lịch sử các giai đoạn trước đó để so sánh, đối chiếu.
| Tiêu chí so sánh |
Làng Mỹ Khê (phường Phước Mỹ) |
Làng Nam Thọ (phường Thọ Quang) |
Làng Thanh Khê (phường Thanh Khê Đông) |
| Vị trí địa lý |
Cách trung tâm thành phố 1 km |
Cách trung tâm thành phố 5 km |
Cách trung tâm thành phố 3 km |
| Đặc điểm nghề nghiệp |
Chuyển hẳn sang kinh doanh dịch vụ, du lịch |
Đánh bắt hải sản gần bờ kết hợp làm thuê |
Đánh bắt hải sản xa bờ, sản lượng cao |
| Đặc điểm đô thị hóa |
Diễn ra nhanh, mạnh sau năm 2000; giải tỏa nhiều |
Bắt đầu sau năm 2000, giữ khu dân cư cũ |
Đô thị hóa sớm, khu dân cư ổn định |
| Hiện trạng tín ngưỡng |
Cơ sở thờ tự và lễ cúng có xu hướng giảm |
Duy trì số lượng cơ sở thờ tự và quy mô lễ |
Duy trì và phát triển quy mô hơn trước |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu tín ngưỡng cư dân ven biển Việt Nam cho thấy:
- Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến trước năm 1954: Tư liệu chủ yếu là ghi chép tản mạn trong thư tịch cổ như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, hoặc điểm qua trong các khảo cứu của Nguyễn Văn Huyên (Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương).
- Giai đoạn sau năm 1954: Tín ngưỡng ven biển được đề cập cụ thể hơn qua các khảo cứu về tục thờ cá Voi của Cung Giũ Nguyên (Kẻ thừa tự của ông Nam Hải), Thái Văn Kiểm (Tục thờ cá Voi).
- Giai đoạn đầu thế kỷ XXI: Xuất hiện hàng loạt công trình chuyên sâu về văn hóa làng biển và cộng đồng ngư dân của Ngô Đức Thịnh (Văn hóa dân gian làng ven biển), Nguyễn Duy Thiệu (Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam), Nguyễn Đăng Vũ (Văn hóa cư dân ven biển Quảng Ngãi), Trần Hồng Liên (Cộng đồng ngư dân Nam Bộ), Viện Văn hóa Nghệ thuật và Sở Văn hóa - Thông tin Phú Yên (Văn hóa cư dân Việt ven biển Phú Yên), Lê Văn Kỳ (Văn hóa biển miền Trung Việt Nam), Lê Thế Vịnh và Nguyễn Hoài Sơn (Phong tục - tín ngưỡng dân gian làng biển Đông Tác), Phan Thị Yến Tuyết (Đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ), Lê Quang Nghiêm (Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa). Ngoài ra, các tác giả như Tôn Thất Bình, Phạm Văn Tú, Nguyễn Xuân Đức, Lê Thanh Tùng, Ninh Viết Giao, Trần Thị An, Nguyễn Thị Yên, Đinh Văn Hưng, Đào Tam Tỉnh, Nguyễn Thanh Lợi, Lê Hồng Lý đã phân tích sâu các loại hình tín ngưỡng thờ cá Voi, thờ Tứ Vị Thánh Nương, thờ Mẫu, thờ Thủy Long, thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và thờ cô hồn.
Về địa bàn Đà Nẵng:
- Trước năm 1997, nghiên cứu văn hóa Đà Nẵng thường được gộp chung trong chỉnh thể văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng qua các công trình của Thạch Phương, Nguyễn Đình An, Võ Văn Hòe, Hoàng Hương Việt, Bùi Văn Tiếng. Sau khi tách tỉnh năm 1997, văn hóa Đà Nẵng được xem xét độc lập qua nghiên cứu của Phạm Hoàng Hải, Lê Duy Anh, Lê Hoàng Vinh, Bùi Văn Tiếng.
- Về tín ngưỡng và di tích: Hồ Tấn Tuấn chủ biên công trình Đình làng Đà Nẵng (giới thiệu 35 ngôi đình, trong đó có 6 đình làng ven biển: An Hải, Mân Quang, Mỹ Khê, Nại Hiên Đông, Nam Thọ, Thanh Khê); Lê Xuân Thông và Đinh Thị Toan khảo cứu Sắc phong ở Đà Nẵng; Tống Quốc Hưng và Võ Văn Hoàng khảo cứu dấu ấn biển trong văn hóa ngư dân Đà Nẵng; Đinh Thị Trang tìm hiểu tục thờ cây và tín ngưỡng thờ cá Ông tại Nam Ô, Xuân Dương, Tân Trà.
- Đáng chú ý nhất là chuyên khảo Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng của Nguyễn Xuân Hương. Tác giả đã khảo tả hệ thống các loại hình tín ngưỡng như tục thờ cá Ông, lễ hội Cầu ngư, hát bả trạo, thờ Mẫu, thờ cô hồn, thờ tổ tiên dưới góc độ lịch sử và diễn trình truyền thống, song nội dung biến đổi văn hóa chỉ được đề cập như một phần phụ và chưa phân tách riêng biệt địa bàn Đà Nẵng.
Về đô thị hóa tại Đà Nẵng:
- Các nghiên cứu của Trần Văn Thạch, Nguyễn Dũng Anh, Phạm Hảo, Nguyễn Thị Triều, Trần Ngọc Sơn, Trịnh Duy Luân và hội thảo năm 2009 của Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III và Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng đã phân tích tác động của đô thị hóa đến việc làm, tái định cư, tâm lý xã hội, lối sống và gia đình. Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu vào lĩnh vực tín ngưỡng dân gian của cư dân ven biển.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Thực hiện một công trình chuyên khảo có hệ thống, tiếp cận liên ngành kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm làm rõ diện mạo, thực trạng biến đổi và các yếu tố tác động đến tín ngưỡng dân gian của cư dân ven biển Đà Nẵng trong bối cảnh đô thị hóa từ năm 2003 đến năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm thao tác
- Cư dân ven biển: Toàn bộ cư dân sinh sống trong không gian các làng đánh cá ven biển trước đây, bao gồm nhóm dân cư bản địa tại chỗ và các nhóm dân cư từ nơi khác chuyển đến, tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp đa dạng trong cấu trúc xã hội đô thị hiện nay.
- Tín ngưỡng: Niềm tin của con người gắn liền với các nghi lễ phụng thờ các đối tượng thiêng liêng, được thực hành theo tập quán, thói quen truyền thống nhằm mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Luận án phân tách tín ngưỡng (tín ngưỡng dân gian) với tôn giáo (vốn có hệ thống giáo lý, giáo luật, tầng lớp giáo sĩ chuyên nghiệp và tổ chức giáo hội chặt chẽ).
- Đô thị hóa: Quá trình chuyển dịch kinh tế - xã hội làm biến đổi một vùng dân cư nông thôn thành vùng dân cư đô thị, đặc trưng bởi sự chuyển đổi lao động từ nông/ngư nghiệp sang phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ), mở rộng không gian hạ tầng kỹ thuật và lan tỏa lối sống đô thị.
Hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa được tác giả dẫn dụng gồm 4 nhóm tiêu chí:
- Nhóm 1: Đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội (dân số đô thị, lao động đô thị, phát triển kinh tế đô thị, vị trí và phạm vi ảnh hưởng của đô thị).
- Nhóm 2: Đánh giá mức độ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội (nhà ở, y tế, giáo dục, dịch vụ văn hóa, giải trí cho cộng đồng).
- Nhóm 3: Đánh giá mức độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp nước, thoát nước, cung cấp điện và chiếu sáng, bưu điện, vệ sinh môi trường).
- Nhóm 4: Đánh giá trình độ quy hoạch và quản lý đô thị (trình độ quy hoạch, trình độ quản lý hành chính).
Khung lý thuyết
- Lý thuyết biến đổi văn hóa: Tiếp thu các quan điểm từ thuyết tiến hóa (Edward B. Tylor, Lewis H. Morgan), thuyết truyền bá văn hóa, thuyết tương đối văn hóa (Franz Boas), thuyết vùng văn hóa (Clark Wissler), thuyết tiếp biến văn hóa (Robert Redfield, Leonard Broom) và thuyết chức năng (Bronislaw Malinowski, Alfred Radcliffe-Brown) để giải thích cơ chế thay đổi biểu tượng, thiết chế và hệ thống giá trị văn hóa khi tiếp xúc với các yếu tố hiện đại.
- Lý thuyết sinh thái học văn hóa (Cultural Ecology): Dựa trên mô hình của Julian Steward (1955) về quan hệ tương hỗ giữa môi trường và văn hóa, đặc biệt là khái niệm "lõi văn hóa" (culture core) - các chiến lược sinh kế thích ứng với môi trường tự nhiên. Khi sinh kế chuyển từ khai thác biển sang dịch vụ - du lịch hoặc công nghiệp, lối sống và hệ thống niềm tin tâm linh gắn với môi trường biển sẽ biến đổi theo.
- Lý thuyết xã hội học đô thị của trường phái Chicago: Vận dụng luận điểm của Louis Wirth về đặc trưng đô thị (quy mô dân số, mật độ và tính không thuần nhất) tạo nên các mối quan hệ xã hội phi cá thể, lỏng lẻo, thực dụng; qua đó phân tích sự tương tác giữa nhóm "chính cư" và nhóm "ngụ cư" làm suy giảm tính cố kết cộng đồng làng biển truyền thống.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp tiếp cận liên ngành (Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Sử học) và tiếp cận không gian văn hóa.
- Phương pháp thu thập tư liệu:
- Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phân tích sách chuyên khảo, bài báo khoa học, báo cáo thống kê, địa chí và sắc phong.
- Quan sát tham dự: Trực tiếp tham gia và quan sát các nghi lễ, lễ hội (lễ hội Cầu ngư, lễ tế Tiền hiền, lễ quẩy cơm Cô Bác) tại các cơ sở thờ tự ở Mỹ Khê, Nam Thọ và Thanh Khê.
- Điều tra xã hội học: Tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi với dung lượng mẫu gồm 360 phiếu (mỗi làng khảo sát 120 phiếu, phân bổ theo cơ cấu giới tính, độ tuổi và nghề nghiệp). Dữ liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS 18. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với đại diện ban quản lý di tích, ban khánh tiết, cán bộ văn hóa phường và người dân địa phương.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh, đối chiếu lịch sử - không gian.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan địa bàn nghiên cứu
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết, làm rõ các khái niệm công cụ và phác thảo diện mạo tự nhiên, lịch sử, văn hóa của ba địa bàn khảo sát:
- Môi trường tự nhiên: Bờ biển Đà Nẵng dài hơn 90 km, nằm trong ngư trường trọng điểm miền Trung với trữ lượng hải sản khoảng 1.000 tấn (chiếm 43% trữ lượng cả nước). Vùng ven biển vừa thuận lợi phát triển kinh tế biển và du lịch sinh thái (bán đảo Sơn Trà, bãi biển Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô), vừa chịu nhiều thiên tai bão lốc khắc nghiệt.
- Lịch sử định cư và cư dân: Dấu tích tiền sử thuộc văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm phân bố dọc bờ biển. Từ năm 1306, người Việt bắt đầu định cư; thế kỷ XIV hình thành làng Đà Sơn (do tiền hiền tộc Phan khai phá), sau đó tiến dần ra biển lập các làng chài. Để tương trợ nghề nghiệp, các làng biển đã thiết lập tổ chức Vạn biển. Làng biển có cơ cấu kinh tế đa nghề (kết hợp nông - ngư, lấy dầu rái, bứt lá nín, đốn củi trên bán đảo Sơn Trà).
- Văn hóa truyền thống: Lưu giữ tri thức dân gian dự báo thời tiết qua mây trời, hướng trăng; hình thành tính cách ngư dân can trường, bộc trực; duy trì hệ thống thiết chế đình làng, lăng Ông, đền miếu, chùa làng và một số ít nhà thờ Thiên Chúa giáo sau năm 1954 (như giáo xứ Nhượng Nghĩa, Thanh Đức, Ngọc Quang).
- Đặc điểm ba làng nghiên cứu:
- Làng Thanh Khê (phường Thanh Khê Đông): Thành lập từ thế kỷ XVII bởi tiền hiền họ Hồ (quê gốc Hà Tĩnh), diện tích 0,82 km², dân số 15.000 người, có truyền thống đánh bắt xa bờ với sản lượng thủy sản cao, đô thị hóa sớm nhưng khu dân cư cũ ổn định.
- Làng Mỹ Khê (phường Phước Mỹ): Thành lập cuối thế kỷ XVI, nằm sát biển phía đông sông Hàn; từ sau năm 2000 đô thị hóa và du lịch bùng nổ, đất đai tăng giá dẫn đến chuyển đổi sinh kế mạnh sang dịch vụ, năm 2015 chỉ còn 70 lao động ngư nghiệp (chiếm 1,78% sản lượng đánh bắt toàn quận Sơn Trà).
- Làng Nam Thọ (phường Thọ Quang): Hình thành nửa sau thế kỷ XV dưới chân núi Sơn Trà; ngư dân có truyền thống đánh bắt gần bờ; quá trình đô thị hóa sau năm 2000 triển khai nhiều dự án (đường Ngô Quyền, Yết Kiêu, khu du lịch Sơn Trà, âu thuyền Thọ Quang) nhưng khu dân cư truyền thống vẫn giữ được tỷ lệ dân bản địa cao.
Chương 2: Tín ngưỡng truyền thống của cư dân ven biển Đà Nẵng
Chương 2 phục dựng bức tranh diện mạo tín ngưỡng cổ truyền của cư dân ven biển Đà Nẵng:
- Niềm tin và thực hành tín ngưỡng: Niềm tin tâm linh bắt nguồn từ sự bất trắc, hiểm nguy của môi trường biển cả và sự phụ thuộc vào thiên nhiên, từ đó hình thành nhu cầu cầu viện các thế lực siêu nhiên bảo trợ tính mạng và nguồn lợi hải sản.
- Đối tượng thờ tự:
- Thần biển tối cao: Thần Đông Hải Ngọc Lân (cá Voi/Đức Ngư Ông), kết hợp tục thờ Long Vương, Ngũ vị Thái tử Long Vương và Ông Chài.
- Thần bảo trợ tự nhiên và nhiên thần: Thần Thổ Địa, Phi Vận tướng quân, Cao Các Quảng Độ, Bạch Mã Thái Giám, Quan Thánh Đế Quân, Thần Khổng Lồ, Thần Giác Hải, Thần Du Tử, Tam vị Tản Viên Sơn thần.
- Tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu: Thiên Y A Na, Thủy Long thần nữ, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Ngũ Hành tiên nương.
- Tín ngưỡng thờ Thần tổ khai hoang: Thành hoàng bổn xứ, các bậc Tiền hiền, Hậu hiền của các dòng họ lập làng.
- Tín ngưỡng thờ Âm linh, Cô Bác: Thờ cúng linh hồn những người chết trôi dạt trên biển, chết vô thừa nhận.
- Tín ngưỡng thờ vật linh: Thần Gốc (hóa thân từ cây gỗ trôi dạt), Thần Thiên Sanh Thạch Tượng (hóa thân từ khối đá), Thần Đông Nam Sát Hải Lang Lại Nhị Tướng quân (hóa thân từ rái cá).
- Tín ngưỡng gia đình: Ngũ Tự gia đường, Tam vị Táo quân, tổ tiên dòng họ.
- Cơ sở thờ tự: Không gian tín ngưỡng gồm đình làng, lăng Ông Ngư, các đền miếu xóm/vạn, miếu Cô Bác và am thờ tư gia.
- Hệ thống lễ cúng: Diễn ra tuần tự quanh năm, tiêu biểu là lễ hội Cầu ngư (tổ chức theo định kỳ tam niên đáo hạn với đại lễ kết hợp hát bả trạo, hò đưa linh, đua ghe, lắc thúng), lễ tế Tiền hiền, lễ vía Bà, lễ quẩy cơm Cô Bác, lễ cúng vũng.
Chương 3: Hiện trạng tín ngưỡng truyền thống của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Chương 3 trình bày các kết quả điều tra định lượng và định tính về sự biến đổi của tín ngưỡng ven biển:
- Bối cảnh đô thị hóa: Đà Nẵng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mạnh mẽ giai đoạn 1997 - 2015, mở rộng tỷ lệ dân số thành thị, thu hồi đất quy hoạch hạ tầng và phát triển du lịch ven biển.
- Thay đổi trong niềm tin và hành vi thực hành:
- Kết quả khảo sát 360 mẫu tại Mỹ Khê, Nam Thọ và Thanh Khê cho thấy mức độ tin tưởng vào các thần linh có sự phân hóa theo nhóm tuổi và nghề nghiệp. Tỷ lệ thanh niên tại làng Mỹ Khê giảm sút niềm tin và ít tham gia các sinh hoạt tế tự truyền thống do chuyển sang làm dịch vụ, thương mại.
- Tần suất đến các cơ sở thờ tự có xu hướng giảm ở các dịp sóc, vọng thông thường, chỉ tập trung đông vào dịp lễ hội lớn hoặc ngày cúng giỗ quan trọng.
- Thay đổi đối tượng và cơ sở thờ tự:
- Làng Mỹ Khê: Cơ sở thờ tự bị thu hẹp diện tích đất đai do quy hoạch hạ tầng du lịch; một số miếu sáp nhập hoặc phải di dời; không gian thực hành tín ngưỡng bị thu hẹp.
- Làng Nam Thọ: Duy trì tương đối số lượng lăng miếu nhờ khu dân cư cũ ít bị xáo trộn, nhưng việc tu bổ gặp khó khăn về kinh phí do thu nhập ngư dân đánh bắt gần bờ bấp bênh.
- Làng Thanh Khê: Do kinh tế đánh bắt xa bờ phát triển, cơ sở thờ tự (đình làng, lăng Ông) được đầu tư trùng tu khang trang, mở rộng quy mô bằng nguồn lực đóng góp của các chủ tàu và ngư dân.
- Thay đổi trong lễ cúng:
- Quy trình nghi lễ được giản lược, thời gian tế lễ rút ngắn; việc chuẩn bị lễ vật chuyển dần sang phương thức mua sắm dịch vụ thương mại hóa thay vì tự chế biến trong cộng đồng.
- Lễ hội Cầu ngư có sự tham gia điều hành, quản lý của chính quyền địa phương nhằm phục vụ mục tiêu quảng bá du lịch văn hóa, làm gia tăng tính trình diễn và thế tục hóa sinh hoạt tâm linh dân gian.
Chương 4: Tín ngưỡng cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa, một số vấn đề bàn luận
Chương 4 tổng hợp các phân tích lý luận và đưa ra đánh giá:
- Nhận diện đặc trưng văn hóa qua thực hành tín ngưỡng: Tín ngưỡng ven biển Đà Nẵng phản ánh tính thích nghi sinh thái biển sâu sắc, tính cố kết cộng đồng vạn chài và hiện tượng tiếp biến văn hóa đa tầng giữa yếu tố văn hóa bản địa Sa Huỳnh - Chăm (thờ Po Ino Nagar/Thiên Y A Na, thần sóng biển Cha-Aih-Va/cá Voi) với văn hóa của người Việt di cư từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
- Những nhân tố tác động đến sự biến đổi:
- Chuyển dịch sinh kế (Lõi văn hóa): Ngư dân bỏ nghề biển sang kinh doanh du lịch, khách sạn làm mất đi nền tảng kinh tế gắn với biển, khiến nhu cầu tâm linh cầu biển lặng, cá đầy khoang bị suy giảm trực tiếp (điển hình tại Mỹ Khê).
- Biến động cơ cấu dân cư (Trường phái Chicago): Quá trình giải tỏa, tái định cư và nhập cư làm xuất hiện tầng lớp "dân ngụ cư" đông đảo; mối quan hệ xã hội mang tính phi cá thể, người mới đến không chia sẻ ký ức và trách nhiệm thực hành tín ngưỡng bản địa, làm lỏng lẻo mối liên kết làng xã.
- Chính sách quy hoạch và quản lý văn hóa: Công tác quy hoạch chỉnh trang đô thị thu hồi đất di tích, kết hợp với các định hướng bảo tồn và khai thác du lịch lễ hội của Nhà nước đã tái cấu trúc không gian và tính chất nghi lễ.
- Kinh tế thị trường và lối sống đô thị: Đưa các yếu tố thương mại hóa, thực dụng vào trong nghi thức thờ cúng và đóng góp tài chính.
- Các xu hướng biến đổi chính:
- Xu hướng thế tục hóa và đơn giản hóa nghi lễ.
- Xu hướng thương mại hóa và du lịch hóa lễ hội tín ngưỡng.
- Xu hướng phân hóa không gian: Suy giảm, thu hẹp tại các địa bàn chuyển đổi hoàn toàn sang du lịch (Mỹ Khê); bảo lưu và phát triển phục hồi tại các địa bàn duy trì sinh kế bám biển xa bờ (Thanh Khê).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án là công trình chuyên khảo hệ thống đầu tiên nghiên cứu toàn diện về diện mạo và sự biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng dưới tác động của đô thị hóa từ năm 2003 đến 2017.
- Làm rõ cơ chế tác động tương hỗ giữa chuyển đổi sinh kế ("lõi văn hóa" theo thuyết sinh thái học văn hóa) và sự biến đổi của hệ thống biểu tượng, nghi lễ tâm linh dân gian trong môi trường đô thị biển.
- Vận dụng thành công các lý thuyết nhân học và xã hội học đô thị (trường phái Chicago) vào phân tích thực tiễn văn hóa biển cận duyên ở miền Trung Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp hệ thống dữ liệu điền dã định tính và số liệu điều tra xã hội học định lượng (360 bảng hỏi xử lý qua SPSS 18) về hiện trạng niềm tin, cơ sở thờ tự và lễ cúng tại ba địa bàn đại diện (Mỹ Khê, Nam Thọ, Thanh Khê).
- Đưa ra cơ sở khoa học để chính quyền thành phố Đà Nẵng và ngành văn hóa điều chỉnh chính sách:
- Tăng tỷ lệ phân bổ ngân sách cho bảo tồn văn hóa cơ sở (khắc phục mức thấp 0,9% GDP).
- Quy hoạch không gian bảo tồn các thiết chế đình, đền, lăng miếu trong quá trình chỉnh trang đô thị.
- Bảo tồn nguyên vẹn các giá trị cốt lõi của lễ hội Cầu ngư, tránh việc sân khấu hóa và thương mại hóa quá mức khi khai thác phục vụ du lịch.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khảo sát thực địa định lượng tập trung chủ yếu vào 3 địa bàn đại diện (Mỹ Khê, Nam Thọ, Thanh Khê), chưa thể bao quát chi tiết toàn bộ các làng ven biển khác trên địa bàn toàn thành phố Đà Nẵng như Nam Ô, Kim Liên, Thuận Phước, Hòa Hải.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh biến đổi tín ngưỡng giữa các cộng đồng ven biển Đà Nẵng với các tỉnh lân cận ở Duyên hải Nam Trung Bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa).
- Đi sâu nghiên cứu tác động của các mô hình kinh tế du lịch nghỉ dưỡng cao cấp ven biển đến quyền tiếp cận không gian thực hành tín ngưỡng biển của cộng đồng cư dân bản địa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp kỹ thuật điều tra bảng hỏi định lượng (SPSS 18) với quan sát tham dự và phỏng vấn sâu trong nghiên cứu biến đổi văn hóa dân gian.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Sở Văn hóa và Thể thao Đà Nẵng, Sở Du lịch, UBND các quận/huyện ven biển): Cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch đô thị hài hòa với bảo tồn di sản, quản lý lễ hội dân gian và định hướng phát triển du lịch di sản bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn ba làng Mỹ Khê, Nam Thọ và Thanh Khê làm địa bàn nghiên cứu đại diện?
Ba làng đại diện cho ba mô hình chuyển đổi sinh kế, tốc độ đô thị hóa và trạng thái tín ngưỡng khác biệt: Mỹ Khê chuyển hoàn toàn sang kinh doanh dịch vụ - du lịch biển (đô thị hóa nhanh, tín ngưỡng có xu hướng giảm); Nam Thọ duy trì đánh bắt gần bờ (đô thị hóa trung bình, giữ cơ sở thờ tự mức độ vừa phải); Thanh Khê đẩy mạnh đánh bắt xa bờ (đô thị hóa sớm, tín ngưỡng được củng cố và phát triển khang trang).
2. Mối quan hệ giữa chuyển dịch nghề nghiệp và biến đổi tín ngưỡng trong luận án được giải thích qua lý thuyết nào?
Tác giả vận dụng lý thuyết sinh thái học văn hóa của Julian Steward, đặc biệt là khái niệm "lõi văn hóa" (culture core). Khi ngư dân chuyển đổi sinh kế từ đánh bắt hải sản sang kinh doanh du lịch hoặc dịch vụ trên bờ, phương thức tương tác với môi trường tự nhiên thay đổi, dẫn đến lối sống và nhu cầu thực hành các nghi lễ cầu may, tạ ơn thần biển suy giảm theo.
3. Tín ngưỡng cư dân ven biển Đà Nẵng thờ phụng những đối tượng thần linh chủ yếu nào?
Hệ thống thờ tự bao gồm: Thần biển tối cao Thần Đông Hải Ngọc Lân (cá Voi/Đức Ngư Ông), Long Vương; các Nữ thần và Mẫu (Thiên Y A Na, Thủy Long thần nữ, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Ngũ Hành tiên nương); Thành hoàng bổn xứ, Tiền hiền, Hậu hiền; Âm linh, Cô Bác; các nhiên thần, nhân thần và các thần linh hóa thân từ vật linh (Thần Gốc, Thần Thiên Sanh Thạch Tượng, Thần Lang Lại Nhị Tướng quân).
4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập và xử lý bằng các công cụ nào?
Luận án kết hợp phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các bên liên quan và điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên mẫu 360 phiếu (mỗi làng 120 phiếu, chia theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp), dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 18.
5. Luận án chỉ ra thực trạng ngân sách cho văn hóa tại Đà Nẵng ảnh hưởng ra sao đến bảo tồn tín ngưỡng?
Đà Nẵng mới phân bổ ngân sách hàng năm cho hoạt động văn hóa đạt 0,9% (thấp hơn mức 1,8% GDP tỉnh/thành theo luật quy định). Nguồn lực hạn chế này khiến công tác nghiên cứu, tu bổ di tích lăng miếu và bảo tồn các thực hành tín ngưỡng ven biển chưa được quan tâm tương xứng, làm gia tăng nguy cơ mai một di sản trước sức ép đô thị hóa.
Kết luận
Luận án của Lê Thị Thu Hiền đã