Chương 1 ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG 1. Khái niệm đô thị tương phản với khái niệm tính nông thôn và khái niệm thành phố tiền công nghiệp Theo các nhà xã hội học về đô thị, khái niệm đô thị gần đây đã đươc xem là một mô hình định cư có tính phủ định đối với các mô hình định cư nông thôn và thành thị đã tồn tại trước nó. Bởi vì mô hình định cư nông thôn hay mô hình định cư thành thị tiền công nghiệp luôn gắn với mô hình thành phố La Mã cổ đại, được hình thành bởi hai yếu tố là một lãnh thổ xác định rõ rệt về không gian và một cộng đồng dân cư, nơi mọi cá nhân tham gia vào đó dựa trên nguyên tắc có đi có lại trong một không gian riêng tư và cố định. “Trong ngôn ngữ phổ biến ngày nay, thành phố tiếp tục chỉ định địa điểm hoặc sự hỗ trợ tĩnh của một sự giao tiếp ba chiều bảo đảm sự trao đổi thông tin, hàng hóa và cảm xúc.
Nó vẫn còn được quan niệm như một liên kết không thể tách rời của những cái mà người La Mã gọi là l'urbs (lãnh thổ vật chất của thành phố) và civitas (cộng đồng của các công dân ở đó) hay như sự gắn bó với nhau của một thực thể không gian riêng tư và của một dân cư xác định .)[ 35 ]… Khi bàn về đặc trưng của mô hình thành phố tiền công nghiệp của châu Âu, các nhà xã hội học nhất trí cho rằng nó mang đậm nét tính nông thôn vì nó không chỉ ở trong nông thôn mà còn thuộc về nông thôn. Về mặt từ nguyên, trong tiếng Pháp từ "thành phố" (ville) đến từ tiếng Latin « villas », biểu thị một khu định cư nông thôn tự cung tự cấp là hạt nhân của các khu phố thời trung cổ. Quan niệm từ nguyên học này nhấn mạnh sự gia nhập của thành phố tiền công nghiệp vào nông thôn. Mumford, một trong những người đầu tiên cho chúng ta biết rằng ngoại trừ một vài trung tâm thành phố tắc nghẽn, các thành phố của thời Trung cổ không chỉ đơn giản là "ở trong nông thôn, mà còn là của nông thôn" (Văn hóa của các thành phố, 1938) và sự tương đối phụ thuộc lẫn nhau này hiện đang 12 được làm sáng tỏ trở lại bởi các sử gia về thành phố châu Âu (Mohenberg và Lee, 1985)[ 26 ].
Sự xuất hiện của mô hình định cư đô thị chỉ nảy sinh vào thời kỳ công nghiệp hóa ở châu Âu khi nó phủ định những đặc trưng của mô hình thành phố tiền công nghiệp cũng như mô hình định cư nông thôn hay « tính nông thôn » là đặc trưng của cả hai mô hình định cư này. « Nhưng vào kỷ nguyên công nghiệp và những tập trung nhân khẩu học chưa từng có này đã cắt đứt cái mối liên kết ban đầu này …Cũng tại đây, cuộc cách mạng công nghiệp đã làm suy yếu một liên kết đầu tiên. Nó đã phá vỡ mối quan hệ mang tính bổ sung vốn thống nhất thành phố và nông thôn, và đã khoét sâu sự khác biệt nổi tiếng mà Marx đã chỉ định cho chủ nghĩa cộng sản phải thủ tiêu nó. Tuy nhiên không phải là bằng cuộc cách mạng xã hội, mà bằng sự phát triển thường xuyên của kỹ thuật mà sự xóa bỏ sự khác biệt này đã bắt đầu.
Người ta nhận ra rằng cái quá trình đang diễn ra và có xu hướng thủ tiêu sự khác biệt này là vì lợi ích của một thực thể không còn là thành phố cũng không phải nông thôn là hai yếu tố mà về phương diện lô gich học cũng như hiện tượng hoc, luôn dựa vào nhau để tồn tại.)[26] Sự xuất hiện của cách mạng công nghiệp đã làm cho các thành phố tiền công nghiệp phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu nhưng cũng đồng thời phá hủy chính mô hình của nó khi thay thế mô hình thành phố (tiền công nghiệp bằng mô hình « đô thị » : « Các nền văn minh đều có bắt đầu và kết thúc! Giống hệt như sự mất mát của một đối tượng đánh thức ý thức về sự tồn tại của nó, đó là ý tưởng về sự biến mất của các thành phố bởi sự phát triển quá lớn của nó làm cho định nghĩa về nó trở nên trống rỗng. : sự tập trung và phát tán đô thị, không hề mang ý nghĩa là sự mở rộng của các thành phố, mà dẫn đến sự biến mất của chúng… Bởi vì thành phố và đô thị hóa ở đây không được coi là những từ đồng nghĩa. Tính hàm súc của những gì thường được trình bày như là đặc biệt đô thị1 (dân cư tập trung, khả năng tiếp cận, tầm quan trọng của 1 Đối lập thành phố với đô thị có thể cho thấy không thuận tiện trong một ngôn ngữ không có hình thức tính từ của từ "thành phố" mà phải sử dụng tính từ "đô thị". 13 những công trình đã xây cất) trái lại được diễn giải bởi F.
Choay (1965)[5] như là sự phủ định của thành phố, hoặc chính xác hơn là thành phố truyền thống." Sự phân biệt này của "thành phố truyền thống" và "đô thị" vả chăng đã trở nên đáng ghi nhớ : chính là vào thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp có lẽ đã chỉ ra sự gián đoạn chia tách dứt khoát thành phố với đô thị. Sự biến đổi đô thị triệt để này do đó không phải là một chuyển đổi giản đơn. Nó được đồng nhất trong các tài liệu tham khảo của chúng ta với một sự thay đổi về bản chất. Tới mức, từ "thành phố" rất có thể sẽ không còn thích hợp để chỉ các thành phố quan trọng đương đại»( Louiset, 2011.
Từ đây chúng ta đã có thể nêu ra một quan niệm về đô thị như một thực thể không gian luôn mở, với mức độ tập trung dân cư cao. Công nghiệp hóa luôn tạo ra các luồng nhập cư và làm tăng trưởng quy mô đô thị. Nó tạo ra các nhóm xã hội mới và các hành vi ứng xử mới. Cách tân kỹ thuật còn làm thay đổi mối quan hệ giữa con người với không gian và thời gian.
Hệ thống giao thông hiện đại làm cho đô thị có một đặc trưng chính phân biệt chúng với loại hình các thành thị trước đó: tính cơ động của chúng. Sự vận động này là sự vận động mở rộng đô thị và những chuyển dịch liên miên của các thị dân. Như vậy, sự mở rộng không ngừng về không gian và tính cơ động của dân cư đô thị chính là những cái tạo ra sự đối lập giữa đô thị hiện đại và thành phố tiền công nghiệp. Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc : « đô thị (hay quần thể đô thị) bao gồm một đô thị trung tâm (thành phố) và vùng ven đô, tức là vùng có sự tập trung dân cư cao ở bên ngoài nhưng rất gần với các đường phân giới của nó ».
Vì thế chính cái đô thị trung tâm trở nên lớn hơn nhờ những thứ mà nó loại bỏ, những cái có thể mở rộng ra tới mức nuốt chửng các thành phố vệ tinh, về đại thể tương ứng với cả thành phố và vùng ven đô của nó.)[ 3 ] Như thế cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XIX đã làm thay đổi hoàn toàn tính chất của thành phố tiền công nghiệp ở Tây Âu và Bắc Mĩ, dẫn tới sự ra đời của các đô thị, và từ đó làm nảy sinh quá trình đô thị hóa cho đến nay trên phạm vi toàn thế giới. Quan niệm về đô thị ở Việt Nam Quan niệm về đô thị ở Việt Nam được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh. Nếu nhìn từ khía cạnh xã hội, đô thị thường được định nghĩa bằng cách so sánh với nông thôn. Dưới góc độ xã hội thì cả đô thị và nông thôn đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội.
Cụ thể, một định nghĩa theo văn bản pháp luật của Việt Nam đã đưa ra: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, có những chức năng là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá, hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Đào Hoàng Tuấn (2008): đô thị là một tổ chức tổng hợp, chuyên môn hóa cao các mặt của lãnh thổ, đòi hỏi phải có những chính sách, thể chế, quản lý đặc biệt phù hợp với từng đô thị (khác hẳn với hình thức tổ chức lãnh thổ dạng quần cư nông thôn) và một bộ máy quyền lực đặc thù có đủ năng lực để quản lý, điều hành, thực hiện những thể chế đó trong quá trình phát triển bền vững của mỗi đô thị trên nền tảng mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đô thị. Khái niệm vùng ven đô ngoại thành Khái niệm vùng ven đô thị như đã nêu ở trên là vùng có sự tập trung dân cư cao, bao bọc các thành phố hay trung tâm đô thị, luôn trong quá trình vận động và phát tán những ảnh hưởng của nó ra bên ngoài nên cũng là những vùng diễn ra quá trình đô thị hóa, nhanh chóng và sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống của nó. Các khu công nghiệp lúc đầu thường ở trong không gian nội đô của các thành phố, nhưng sau đó ngày càng chuyển dịch xa hơn ra các vùng ven đô, vì giá đất ngày càng trở nên đắt đỏ và sức cạnh tranh của công nghiệp ngày càng thua kém các nghành dịch vụ.
Sự chuyển dịch các khu công nghiệp ra các vùng ven đô, đến lượt nó lại kéo theo sự tập trung các dân cư từ nội đô và từ các nơi khác đến đây tìm kiếm việc làm hay tìm chỗ ở phù hơp với thu nhập của họ. Quá trình đô thị hóa ở các vùng ven đô của thành phố Hà Nội và 15 thành phố Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay cũng dang chứng minh điều đó. Hai thành phố này đã thâu tóm rất nhiều đất đai của các tỉnh xung quanh nó trong quá trình đô thị hóa của chúng.