Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử "Những chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương từ 1945 đến 2005" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hiệp thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2007), thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại (mã số chuyên ngành lịch sử).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bình Dương là địa bàn thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có tiến trình lịch sử hơn 300 năm (từ năm 1698). Trong 60 năm (1945–2005), địa bàn này trải qua nhiều biến cố lịch sử gắn liền với hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế sau ngày thống nhất đất nước. Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn bộc lộ những bất cập cần được nghiên cứu, tổng kết. Xuất phát từ yêu cầu tổng kết thực tiễn để nâng lên thành lý luận theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khi làm việc tại địa phương ("Bình Dương cần tổng kết kinh nghiệm không chỉ cho riêng mình mà cho cả nước khi bước vào ngưỡng cửa công nghiệp hóa..."), việc phục dựng một cách khoa học, toàn diện tiến trình chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh trong 60 năm là một đòi hỏi cấp bách. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống: trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình sử học nào tái hiện có hệ thống và phân tích xuyên suốt bức tranh kinh tế - xã hội Bình Dương trong toàn bộ khung thời gian 1945–2005.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Tái hiện toàn diện, có hệ thống các giai đoạn chuyển biến kinh tế và xã hội của tỉnh Bình Dương trong 60 năm (1945–2005).
  2. Phân tích các nhân tố tác động, làm rõ nguyên nhân của các thành quả cũng như những hạn chế, tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh qua từng thời kỳ lịch sử.
  3. Rút ra các bài học kinh nghiệm thực tiễn (đặc biệt trong thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp và phát triển nguồn nhân lực), cung cấp cơ sở khoa học phục vụ hoạch định chính sách phát triển của địa phương và đóng góp luận cứ cho đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những chuyển biến trên hai lĩnh vực chính là kinh tế (cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, các ngành kinh tế chủ lực) và xã hội (cơ cấu dân cư, thiết chế xã hội, đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần, các vấn đề phân tầng xã hội và an sinh) trên địa bàn tỉnh Bình Dương từ 1945 đến 2005.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 1945 đến năm 2005, được chia thành 5 giai đoạn: 1945–1954, 1954–1975, 1975–1986, 1986–1996 và 1997–2005. Luận án có mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1945 nhằm làm rõ các tiền đề tự nhiên, dân cư, hành chính và kinh tế truyền thống.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bình Dương theo địa giới hành chính hiện hành (bao gồm các giai đoạn lịch sử mang tên gọi và địa giới khác nhau như Thủ Dầu Một, Thủ Biên, Bình Thủ, Sông Bé), có mở rộng so sánh với các địa phương phụ cận ở miền Đông Nam Bộ, Nam Bộ và cả nước.

Cấu trúc văn bản

Luận án có dung lượng 199 trang, bao gồm:

  • Dẫn luận: 10 trang.
  • 3 chương nội dung: 173 trang.
  • Kết luận: 16 trang.
  • Danh mục tài liệu tham khảo: 23 trang.
  • Phụ lục: 48 trang.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại hệ thống công trình nghiên cứu theo hai giai đoạn lịch sử chính:

Các công trình công bố ở miền Nam trước năm 1975

  • Nghiên cứu cục bộ về Thủ Dầu Một – Bình Dương:
    • Đỗ Văn Minh: Vấn đề cao su Việt Nam (Luận án tốt nghiệp Trường Quốc gia Hành chánh Sài Gòn).
    • Trần Thị Khánh Vân (1970): Việc mậu dịch lúa gạo và cao su tại Việt Nam Cộng hòa từ 1954 đến 1968 (Luận văn cao học, Đại học Văn khoa Sài Gòn).
    • Huỳnh Viết Sơn (1973): Thực trạng kinh tế quận Bến Cát trước ngày đóng quân của quân đội Hoa Kỳ: tình hình an ninh, chính trị, đồn điền cao su, lúa gạo, ngũ cốc, tiểu công nghệ, chăn nuôi… (Luận văn tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh Sài Gòn).
    • Lâm Châu Ngọc Bửu (1973): Thực trạng nền giáo dục tại tỉnh Bình Dương hiện nay - vấn đề giáo dục tỉnh Bình Dương (Luận văn tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh Sài Gòn).
    • Lê Việt Dũng (1975): Chăn nuôi gà tại Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương (Phúc trình tốt nghiệp, Viện Đại học Đà Lạt).
  • Nghiên cứu trên phạm vi toàn miền Nam:
    • Nguyễn Trọng Đạt (1969): Nền kỹ nghệ Việt Nam (Học viện Quốc gia Hành chánh Sài Gòn).
    • Nguyễn Văn Hảo (1972): Nhận định tình hình kinh tế Việt Nam từ 1955 đến 1970 (Ngân hàng Quốc gia Sài Gòn).
    • Nguyễn Văn Ngôn (1972): Kinh tế Việt Nam cộng hoà (NXB Cấp Tiến, Sài Gòn).
    • Nguyễn Văn Ánh (1973): Nhân lực trong công cuộc tái thiết và phát triển quốc gia (Sài Gòn).
    • Các bài viết chuyên khảo trên các ấn phẩm định kỳ: Việt Nam kinh tế tập san, Chấn hưng kinh tế, Phát triển xã hội, báo Công luận.

Nhận định của tác giả luận án: Các công trình trước năm 1975 cung cấp nhiều tư liệu và số liệu thống kê đương thời về chính sách phát triển, thương mại, giáo dục, tài chính của chế độ cũ. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu khảo sát đơn lẻ từng ngành, từng khu vực hành chính hẹp, chưa khái quát được toàn cảnh tiến trình kinh tế - xã hội qua các biến động lịch sử, đồng thời nhiều nhận định cần được kiểm chứng lại dưới góc độ sử học khách quan.

Các công trình nghiên cứu từ sau năm 1975

  • Sách chuyên khảo và đề tài khoa học địa phương:
    • Tỉnh ủy Bình Dương (2000): Kinh tế trang trại tỉnh Bình Dương - thực trạng và giải pháp phát triển.
    • Ban chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ – UBND tỉnh Bình Dương (2002): Tác động của cải cách hành chính đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương.
    • Vũ Đức Thành (chủ biên, 1999): Thủ Dầu Một - Bình Dương đất lành chim đậu.
    • Chu Viết Luân (chủ biên, 2003): Bình Dương thế và lực mới trong thế kỷ XXI.
  • Các nghiên cứu chuyên ngành và bài báo khoa học: Một số luận văn, luận án khảo sát các làng nghề thủ công truyền thống (sơn mài, gốm sứ); các bài viết trên các tạp chí Học tập, Cộng sản, Nhân dân, Xưa và Nay, Văn hóa Nghệ thuật.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn

Hầu hết các công trình sau năm 1975 chỉ tiếp cận từng chuyên đề ngắn hạn, từng ngành nghề riêng biệt hoặc khảo sát tổng thể vùng Nam Bộ mà chưa có công trình nào phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống bức tranh chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương suốt 60 năm (1945–2005). Luận án xác định nhiệm vụ lấp đầy khoảng trống này bằng phương pháp tiếp cận lịch sử toàn diện.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận Mác-xít (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), xem xét sự biến đổi kinh tế - xã hội trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa phương thức sản xuất và kết cấu giai cấp, tầng lớp xã hội qua các giai đoạn lịch sử cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic nhằm tái hiện tiến trình sự kiện theo trình tự thời gian, đồng thời khái quát bản chất quy luật chuyển biến của từng thời kỳ.
  • Phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp tư liệu, thống kê số liệu kinh tế - xã hội, so sánh lịch sử (so sánh giữa các vùng tạm chiếm - kháng chiến, giữa Bình Dương với các tỉnh Đông Nam Bộ) và phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp sử học với kinh tế học, xã hội học, địa lý nhân văn).

Nguồn tài liệu, dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án được khai thác từ ba trụ cột:

  1. Tài liệu lưu trữ gốc: Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết, biên bản của các cơ quan Đảng, chính quyền cách mạng và tài liệu của chính quyền chế độ cũ tại: Văn phòng Tỉnh ủy Bình Dương, Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Xã hội TP.HCM, Thư viện Tổng hợp TP.HCM, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, II, III và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
  2. Tài liệu xuất bản: Các sách chuyên khảo, địa chí văn hóa, kỷ yếu hội thảo khoa học, tạp chí chuyên ngành.
  3. Tư liệu nhân chứng và khảo sát điền dã: Phỏng vấn các nhân chứng lịch sử từng sống, chiến đấu và công tác qua các thời kỳ; tài liệu thu thập từ các đợt khảo sát thực tế tại các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội và địa lý hành chính tỉnh Bình Dương

Chương 1 phân tích các tiền đề tự nhiên, xã hội và biến đổi hành chính đóng vai trò làm khung cảnh lịch sử cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương:

  • Đặc điểm tự nhiên:

    • Vị trí, diện tích, địa hình: Diện tích tự nhiên 2.695,54 km²; tọa độ địa dư từ 10°50’27’’ đến 11°24’32’’ vĩ độ Bắc và từ 106°20’ đến 106°25’ kinh độ Đông. Địa hình bình nguyên lượn sóng yếu, thoải dần từ 5m đến 10m so với mặt biển, có núi Châu Thới (Dĩ An) và núi Cậu (Dầu Tiếng).
    • Thổ nhưỡng: Đất xám trên phù sa cổ có diện tích 200.000 ha (phân bố tại Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, TX. Thủ Dầu Một); đất nâu vàng trên phù sa cổ có 35.206 ha (Tân Uyên, Phú Giáo, Thuận An); đất phù sa Glây (dốc tụ) và đất thấp mùn Glây khoảng 7.900 ha ở các vùng trũng ven sông rạch.
    • Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 26°C – 27°C (cao nhất 39°C, thấp nhất 16°C – 17°C). Hệ thống sông chính gồm: Sông Đồng Nai (đoạn qua Tân Uyên), sông Sài Gòn (dài 256 km, đoạn qua Bình Dương từ Lái Thiêu đến Dầu Tiếng dài 143 km), sông Thị Tính (phụ lưu sông Sài Gòn) và sông Bé (dài 360 km, đoạn qua tỉnh dài 80 km, nhiều thác ghềnh không thuận tiện cho giao thông thủy).
    • Khoáng sản và tài nguyên rừng: Rừng nhiệt đới có nhiều gỗ quý (căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương); khoáng sản gồm mỏ cao lanh Đất Cuốc (Tân Uyên) diện tích hơn 1 km² với trữ lượng lớn, đất sét trắng, sét màu, đá xanh, đá ong.
    • Giao thông: Mạng lưới Quốc lộ 13, Quốc lộ 14, các tuyến liên tỉnh lộ 1A, 13, 14, 16 kết nối vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và biên giới Campuchia.
  • Đặc điểm kinh tế truyền thống:

    • Nông nghiệp lúa nước hình thành từ sớm. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi nhận ruộng lúa Bình An chia thành sơn điền và thảo điền; kinh tế vườn trồng cây ăn trái phát triển mạnh tại Lái Thiêu và sớm trở thành vùng sản xuất hàng hóa.
    • Thủ công nghiệp phát triển dựa vào nguyên liệu tại chỗ: gốm sứ, điêu khắc gỗ, sơn mài, tranh kiếng.
    • Thời thuộc Pháp: Du nhập đồn điền cao su, thành lập Trường Bá Nghệ (1901) đào tạo thợ thủ công, khởi công xây dựng Nhà máy Đề pô xe lửa Dĩ An (1902).
  • Đặc điểm xã hội và dân cư:

    • Dân cư, dân tộc: Ban đầu là cư dân bản địa (Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ-nông); từ cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII tiếp nhận dân di cư vùng Ngũ Quảng; năm 1679 tiếp nhận khoảng 3.000 người Hoa tị nạn triều Minh và năm 1885 sau Hòa ước Thiên Tân tiếp tục có người Hoa đến định cư.
    • Biến động dân số: Năm 1943 dân số Thủ Dầu Một là 230.000 người. Đến tháng 12/2005, dân số toàn tỉnh đạt 1.030.722 người (nam: 493.527 người, chiếm 47,9%; nữ: 537.195 người, chiếm 52,1%); gần 7.700 người dân tộc thiểu số thuộc 16 dân tộc và gần 24.000 người Hoa; lực lượng lao động nhập cư năm 2005 lên tới khoảng 300.000 người.
    • Văn hóa - Tôn giáo: Phật giáo (du nhập cuối thế kỷ XVI), Công giáo (đầu thế kỷ XVII), Tin Lành (khoảng 1923–1924), Đạo Cao Đài (các hệ phái Tây Ninh, Chơn Lý, Ban Chỉnh, Tiên Thiên). Lễ hội truyền thống tiêu biểu: Kỳ yên (lễ Hạ điền, Thượng điền), lễ Tiết tứ thời tại đình làng, lễ hội Chùa Bà.
    • Di sản xã hội thời thuộc địa: Hơn 90% dân số toàn tỉnh không biết chữ trước năm 1945.
  • Biến đổi địa lý hành chính và sự phân vùng thời chiến:

    • Tiến trình hành chính: Từ tổng/huyện Bình An thời Nguyễn -> tiểu khu/tỉnh Thủ Dầu Một (nghị định ngày 20/12/1899 của Pháp) -> chia tách thành tỉnh Bình Dương, Bình Long (1956), tỉnh Phước Thành (1959–1965) của chính quyền Sài Gòn -> nhập/tách tỉnh Thủ Biên (1951, 1960), Phân khu 5 (1967), tái lập tỉnh Thủ Dầu Một (1972) -> sáp nhập thành tỉnh Bình Thủ (9/1975) -> tỉnh Sông Bé (7/1976) -> chính thức tách và tái lập tỉnh Bình Dương ngày 01/01/1997.
    • Phân vùng thời chiến (1945–1975): Địa bàn bị chia cắt thành ba vùng đan xen:
      1. Vùng tạm chiếm (vùng tề, vùng địch kiểm soát): Tỉnh lỵ, quận lỵ, trục giao thông chính.
      2. Vùng tranh chấp (vùng du kích): Vùng đệm giằng co giữa ta và địch (Tân Tịch, Đất Cuốc, An Sơn, Thuận Giao).
      3. Vùng kháng chiến (căn cứ, vùng giải phóng): Chiến khu Đ, Thuận An Hòa, căn cứ Bến Cát, Dầu Tiếng.

Chương 2: Những chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương giai đoạn 1945 - 1975

Chương này chia thành 2 mục lớn, luận giải thực trạng kinh tế - xã hội thời chiến qua hai cuộc kháng chiến:

1. Giai đoạn 1945 - 1954 (Thời kỳ kháng chiến chống Pháp)

  • Chuyển biến kinh tế - xã hội trong vùng tạm chiếm:
    • Nông nghiệp: Sản xuất lúa giảm sút mạnh sau khi Pháp tái chiếm. Năm 1945 diện tích lúa đạt 20.000 ha, đến năm 1946 giảm còn 12.000 ha, năng suất đạt 8,3 tạ/ha. Giai đoạn 1946–1954 diện tích lúa giữ ở mức 12.000 ha; năng suất lúa dao động: năm 1950 đạt 10 tạ/ha, năm 1951 đạt 10,8 tạ/ha, năm 1952 đạt 9 tạ/ha, năm 1953–1954 đạt 10 tạ/ha. Sản lượng lúa gạo từ 3.000 tấn (1940) giảm xuống 1.000 tấn (1947) và đạt 2.000 tấn/năm trong giai đoạn 1953–1954.
Tỉnh Diện tích 1945 (ngàn ha) Năng suất 1945 (tạ/ha) Diện tích 1946 (ngàn ha) Năng suất 1946 (tạ/ha)
Thủ Dầu Một 20 10,0 12 8,3
Chợ Lớn 85 12,9 74 11,1
Tây Ninh 55 11,0 28 8,0
Gia Định 53 10,0 32 10,0

(Nguồn: Luận án trích từ Tổng cục Thống kê, Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ XX)

  • Kinh tế đồn điền cao su: Pháp tái khởi động 12 đồn điền (Sở Sao, Lai Khê, Hớn Quản, Dầu Tiếng...). Năm 1946 sản lượng cao su Thủ Dầu Một đạt 8.901 tấn (chiếm 65–70% sản lượng miền Đông Nam Bộ), năm 1947 đạt 17.000 tấn. Phong trào "Cao su chiến" của công nhân đã phá hoại nhiều cơ sở chế biến (ở Hớn Quản phá 147 vỏ cây, 194.000 chén hứng mủ, đổ 450 tấn mủ; ở Dầu Tiếng chặt 720 cây, phá 200.000 chén hứng mủ, 2 kho dụng cụ, 206 căn nhà). Năm 1948–1949 Pháp tăng cường 3.500 quân bảo vệ đồn điền nhưng vẫn bị phá hủy 2.596 mẫu, 225.500 chén mủ và 74.180 cây cao su. Giai đoạn 1951–1954, do giá cao su thế giới tăng (ảnh hưởng chiến tranh Triều Tiên), Pháp khai thác theo kiểu vắt kiệt.
Năm Tổng diện tích (1.000 ha) Diện tích khai thác (1.000 ha) Sản lượng (Tấn)
1951 63,3 42,1 37.056
1952 63,4 43,4 43.149
1953 63,6 45,9 50.370
1954 64,2 47,8 51.107

(Nguồn: Luận án trích từ Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam)

  • Công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ: Đầu năm 1945 có 40 lò gốm (An Thạnh, Hưng Định, Tân Thới, Phú Cường), khoảng 10 cơ sở sơn mài, gần 80 hộ làm guốc, hơn 300 hộ điêu khắc; cơ sở sơn mài Thành Lễ phát triển. Thương nghiệp bị chi phối bởi tư bản tài chính Hoa kiều và Pháp kiều; cán cân thương mại toàn Đông Dương thâm hụt bình quân 1.793 triệu đồng Đông Dương/năm (1947–1950) và 7.096 triệu đồng Đông Dương/năm (1951–1954).
  • Xã hội: 20% dân số (địa chủ, chủ đồn điền) chiếm gần 50% đất đai; 80% nông dân không có ruộng đất canh tác; 21.000 thanh niên và 600.000 lượt người bị bắt đi xâu. Lương quan chức chính quyền bù nhìn ở mức cao:
Chức vụ Lương tỉnh hạng I ($ Đông Dương/tháng) Lương tỉnh hạng II ($ Đông Dương/tháng)
Tỉnh trưởng 5.500 4.500
Phó Tỉnh trưởng 4.000 3.500
Đại lý hành chánh 4.500 3.500
Quận trưởng 3.000 2.500

(Nguồn: Luận án trích từ Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I)

Trái lại, lương công nhân cao su chỉ đạt 3,8 đến 4 đồng Đông Dương/ngày. Đến năm 1954, toàn vùng tạm chiếm chỉ có 4 trường tiểu học, 2 trường trung học và 1 bệnh viện cấp tỉnh.

  • Chuyển biến kinh tế - xã hội ở vùng kháng chiến:
    • Xây dựng bộ máy: Thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp, Tỉnh bộ Việt Minh do Nguyễn Đức Nhàn làm Chủ nhiệm; thành lập Ban Kinh tài tỉnh do Trần Minh Phương phụ trách, Ban Liên lạc Tiếp tế và hệ thống Ban Quân nhu.
    • Chính sách và phong trào: Xóa bỏ thuế thân, giảm tô 25%, tịch thu ruộng đất của thực dân và địa chủ ác ôn cấp cho nông dân; phát động các phong trào "Ổ bánh cho kháng chiến", "Hũ gạo nuôi quân", phát hành "Vé kháng chiến".
    • Sản xuất tự túc: Năm 1948 sản lượng lương thực tăng 20 lần so với 1947; xã Định Hòa (Châu Thành) trồng gần 20 ha khoai mì; đến tháng 9/1948 toàn vùng kháng chiến canh tác 7.820 ha lúa màu, thu 31.723 giạ lúa, nuôi 2.718 con trâu bò heo. Tính đến tháng 4/1950, thu thuế nông nghiệp đạt 17.378,57 đồng và 152 giạ lúa. Năm 1952 nông dân tỉnh Thủ Biên canh tác 17.200 mẫu ruộng. Sau thiệt hại của trận lụt Nhâm Thìn (1952) phá hủy 80% diện tích, đến tháng 9/1953 nông dân phục hồi canh tác 17.200 ha ruộng, trồng 11.000 gốc mì. Năm 1954 nhân dân canh tác 1.703 ha ruộng, cơ quan bộ đội làm 163 ha rẫy; phong trào sản xuất mùa nghịch đạt 404 ha lúa, 316 ha khoai lang và mì.

2. Giai đoạn 1954 - 1975 (Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ)

  • Phân tích các chính sách kinh tế - xã hội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại vùng tạm chiếm Bình Dương, tình hình chuyển dịch thương mại - dịch vụ, công nghiệp phụ thuộc viện trợ và đời sống các tầng lớp xã hội đô thị.
  • Trình bày đường lối, chủ trương phát triển kinh tế tự túc của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại các căn cứ chiến khu, phát triển mạng lưới hậu cần kháng chiến và giữ vững đời sống văn hóa tinh thần cách mạng của cư dân vùng giải phóng.

Chương 3: Những chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương giai đoạn 1975 - 2005

Chương 3 gồm 3 mục lớn, phân tích sự vận động qua ba giai đoạn phát triển:

  • Giai đoạn 1975 - 1986 (Thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp):

    • Khảo sát các chính sách kinh tế - xã hội sau ngày thống nhất trên địa bàn tỉnh Sông Bé (thành lập tháng 7/1976).
    • Quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, công thương nghiệp tư doanh; xây dựng kinh tế tập thể (hợp tác xã, tập đoàn sản xuất) và nông lâm trường quốc doanh.
    • Tình hình phân bổ lại dân cư, tiếp nhận đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới từ miền Bắc, miền Trung và thực hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số; những khó khăn, khủng hoảng kinh tế - xã hội của địa phương trước thềm Đổi mới.
  • Giai đoạn 1986 - 1996 (Thời kỳ đầu thực hiện đường lối Đổi mới):

    • Quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội VI của Đảng tại Đảng bộ tỉnh Sông Bé; từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
    • Sự hình thành các chủ trương phát triển công nghiệp, tạo tiền đề thu hút vốn đầu tư và chuẩn bị mặt bằng hạ tầng kỹ thuật; chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa - xã hội.
  • Giai đoạn 1997 - 2005 (Thời kỳ tái lập tỉnh Bình Dương và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa):

    • Sự kiện tái lập tỉnh Bình Dương ngày 01/01/1997 (chia tách từ tỉnh Sông Bé theo quyết định của Quốc hội khóa IX).
    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; xây dựng các khu công nghiệp tập trung (Việt Nam - Singapore, Sóng Thần, Đồng An, Việt Hương...).
    • Biến đổi cơ cấu xã hội: Xuất hiện tầng lớp doanh nhân mới, gia tăng nhanh chóng đội ngũ công nhân và lực lượng lao động nhập cư (năm 2005 đạt khoảng 300.000 người, tập trung tại Dĩ An, Thuận An, Thủ Dầu Một, Bến Cát); các vấn đề phân tầng xã hội, giải quyết việc làm, phát triển nhà ở và hệ thống an sinh xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định 4 nhóm đóng góp khoa học chính:

  1. Về mặt tư liệu lịch sử: Sưu tầm, khai thác và hệ thống hóa nhiều nguồn tư liệu lưu trữ của các cơ quan Đảng, chính quyền cách mạng và chính quyền chế độ cũ (nhiều tài liệu lưu trữ cấp tỉnh và trung ương lần đầu được công bố); hiệu đính một số sự kiện, số liệu lịch sử kinh tế - xã hội địa phương chưa chính xác trong các ấn phẩm xuất bản trước đây.
  2. Về mặt nhận thức lịch sử: Tái hiện một bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về quá trình vận động kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương suốt 60 năm (1945–2005), phân tích tính quy luật và đặc thù trong sự tương tác giữa điều kiện tự nhiên, biến động địa giới hành chính và đường lối chính sách qua các giai đoạn.
  3. Về mặt tổng kết thực tiễn và lý luận: Đúc kết các bài học kinh nghiệm về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội (đặc biệt là quản lý lao động nhập cư, an sinh xã hội). Cung cấp cơ sở khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước.
  4. Về mặt học thuật: Tạo tiền đề và hệ thống dữ liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về lịch sử địa phương Bình Dương, lịch sử kinh tế - xã hội miền Đông Nam Bộ và Nam Bộ thời kỳ hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do địa giới hành chính của tỉnh trải qua nhiều lần chia tách, sáp nhập trong lịch sử (Thủ Dầu Một, Thủ Biên, Bình Dương, Bình Long, Phước Thành, Bình Thủ, Sông Bé) và hoàn cảnh chiến tranh kéo dài 30 năm (1945–1975) chia cắt địa bàn thành nhiều vùng kiểm soát, nguồn tài liệu lưu trữ bị phân tán ở nhiều kho lưu trữ khác nhau, gây khó khăn cho việc đối chiếu, đồng bộ hóa chuỗi số liệu thống kê liên tục giữa các thời kỳ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khảo sát, bổ sung các nguồn tư liệu lưu trữ mới; mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ liên kết vùng giữa Bình Dương với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; nghiên cứu sâu hơn về tác động xã hội của quá trình đô thị hóa và di cư lao động trong giai đoạn sau năm 2005.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Địa lý Kinh tế và Xã hội học.
    • Cán bộ lãnh đạo, cơ quan quản lý nhà nước, ban ngành kế hoạch - đầu tư, lao động - thương binh và xã hội tại tỉnh Bình Dương và các địa phương vùng Đông Nam Bộ.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Hệ thống dữ liệu và bảng biểu thống kê về kinh tế đồn điền cao su, sản xuất nông nghiệp và phân hóa xã hội vùng tạm chiếm giai đoạn 1945–1954 (Chương 2).
    • Khảo cứu về sự biến đổi địa lý hành chính qua các thời kỳ lịch sử (Chương 1).
    • Thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bài học quản lý lao động nhập cư thời kỳ công nghiệp hóa 1997–2005 (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Địa giới hành chính của tỉnh Bình Dương đã trải qua những lần thay đổi lớn nào từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1997?

  • Trả lời: Sau năm 1945, phía cách mạng sáp nhập Thủ Dầu Một với Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên (1951), tách ra (1955), nhập lại lần hai (1960), tách ra (1961), chuyển thành Phân khu 5 (1967), Phân khu Thủ Biên (1971), tái lập tỉnh Thủ Dầu Một (1972). Tháng 9/1975, sáp nhập thành tỉnh Bình Thủ; tháng 7/1976 hợp nhất thành tỉnh Sông Bé (gồm 8 huyện, 1 thị xã). Đến ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Dương chính thức được tái lập (gồm 7 huyện, thị) sau khi chia tách từ tỉnh Sông Bé. Phía chính quyền Sài Gòn chia Thủ Dầu Một thành hai tỉnh Bình Dương, Bình Long (1956), lập tỉnh Phước Thành (1959–1965).

2. Phong trào "Cao su chiến" trong giai đoạn 1945–1954 đã gây ra những tổn thất cụ thể nào cho giới chủ tư bản Pháp tại các đồn điền ở Thủ Dầu Một?

  • Trả lời: Phong trào đã phá hủy diện rộng cơ sở khai thác: Tại đồn điền Hớn Quản, công nhân chặt vạt 147 vỏ cây, phá 194.000 chén hứng mủ, đốt 66 nóc nhà, phá 1 máy đèn, 3 kho lương thực, làm đổ 450 tấn mủ, phá 2 xe cam nhông. Tại đồn điền Dầu Tiếng, công nhân chặt vạt 720 cây, phá 200.000 chén mủ, đốt 206 căn nhà, phá máy cán ép và 2 cầu cây. Trong hai năm 1948–1949, dù Pháp tăng cường 3.500 binh lính, các đồn điền vẫn bị phá mất 2.596 mẫu, đập vỡ 225.500 chén mủ và đốn hạ 74.180 cây cao su đang khai thác.

3. Đặc điểm quy mô dân số và cơ cấu lao động tỉnh Bình Dương tính đến cuối năm 2005 được ghi nhận như thế nào trong luận án?

  • Trả lời: Tính đến cuối tháng 12/2005, dân số toàn tỉnh đạt 1.030.722 người (nam: 493.527 người, chiếm 47,9%; nữ: 537.195 người, chiếm 52,1%). Về thành phần dân tộc, ngoài người Kinh, tỉnh có gần 7.700 người dân tộc thiểu số (thuộc 16 dân tộc) và gần 24.000 người Hoa. Lực lượng lao động nhập cư từ các tỉnh về làm việc trong các khu, cụm công nghiệp đạt khoảng 300.000 người, tập trung đông nhất tại Dĩ An, Thuận An, Thủ Dầu Một và Bến Cát.

4. Chính quyền kháng chiến tỉnh Thủ Dầu Một đã áp dụng những chính sách và biện pháp kinh tế nào để giải quyết vấn đề tự túc lương thực giai đoạn 1945–1954?

  • Trả lời: Chính quyền thực hiện xóa bỏ thuế thân, giảm tô 25%, tịch thu ruộng đất của thực dân và địa chủ ác ôn cấp cho dân canh tác; thành lập Ban Kinh tài tỉnh do Trần Minh Phương phụ trách; phát động phong trào "Hũ gạo nuôi quân", lập "Bồ lúa kháng chiến", "Sở mì kháng chiến"; tổ chức sản xuất mùa nghịch (năm 1954 làm được 404 ha lúa, 316 ha khoai lang và mì). Nhờ đó, sản lượng lúa và màu năm 1948 tăng 20 lần so với năm 1947, khắc phục được tình trạng thiếu hụt lương thực tại các chiến khu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã tái hiện một cách khoa học và hệ thống bức tranh chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương trong 60 năm lịch sử (1945–2005). Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử với phân tích liên ngành và khai thác khối lượng tư liệu lưu trữ đa dạng, công trình làm rõ tính quy luật, những thành tựu và hạn chế của mô hình phát triển kinh tế qua các giai đoạn chiến tranh giải phóng, thời kỳ bao cấp và thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa. Các kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn Bình Dương cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương và đóng góp tài liệu nghiên cứu cho ngành sử học Việt Nam hiện đại.