mở đầu cho việc đa đạng hóa và thay đổi cơ cấu trồng trọt truyền thống ở Bình Dương. Dù thế, tính đến năm 1945, chính sách canh tân nền kinh tế thuộc địa ở Bình Dương hoàn toàn bị thất bại bởi phương pháp khai thác nguồn tài nguyên theo kiểu vắt kiệt của giới tư bản Pháp. Do đó, cùng với việc giành được độc lập trong cuộc cách mạng tháng Tám, nhân dân Bình Dương cũng thừa hưởng luôn của chế độ cũ một nền kinh tế thực dân mục nát, què quặt, phiến diện. Đó chính là những xuất phát điểm của nền kinh tế Bình Dương trước khi bước vào giai đoạn 1945-2005.
ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI Dân cư, dân số Thuở xa xưa, Bình Dương là một vùng đất hoang vu, núi rừng rậm rạp, đất đai chưa mấy được khai phá, chỉ có số ít cư dân bản địa người Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ-nông. Đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, vùng đất Bình Dương lại đón thêm nhiều cư dân mới, đó là những dân xiêu tán vùng Ngũ Quảng rời bỏ quê quán do không chịu nổi sự áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến hà khắc. Tiếp đó, vào năm 1679, sau khi người Mãn đánh bại nhà Minh, một đoàn người Trung Quốc khoảng 3.000 người đi trên 50 chiếc thuyền do Tổng binh Cao Châu, Lôi Châu, Liêm Châu, Long Môn cầm đầu đã chạy sang nước Đại Việt xin tỵ nạn. Sau khi được chúa Nguyễn chấp thuận, một bộ phận người Hoa trên đã "an sáp" vào vùng đất Bình Dương.
Đặc biệt, khi Hòa ước Thiên Tân (1885) giữa Pháp và triều đình Mãn Thanh được ký kết, một bộ phận người Hoa đã đến vùng đất Bình Dương sinh sống và trở thành cư dân nơi đây. Do quá trình Nam tiến diễn ra liên tục từ thế kỷ XVI đến vùng đất Đồng Nai - Gia Định nói chung và vùng đất Bình Dương nói riêng, nên đến năm 1943, cư 20 dân sinh sống ở Bình Dương xưa (Thủ Dầu Một) lên tới 230.000 người [67, tr. Điều đáng chú ý là, trước khi bước vào giai đoạn sau năm 1945, cùng với cư dân nông nghiệp, thợ thủ công, tiểu thương, quan lại, địa chủ, ở Bình Dương còn có thêm lực lượng công nhân. Dưới ách cai trị và chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, dân cư Bình Dương ngày một phân hóa sâu sắc và chính điều này đã tác động quan trọng đến sự biến đổi kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương thời kỳ 1945-1975.
Sau năm 1975, dân cư Bình Dương (Sông Bé) có sự biến động lớn; một phần do người chạy loạn tránh chiến tranh nay quay về quê cũ ; một phần do đồng bào ở một số tỉnh miền Bắc, miền Trung di dân đến Bình Dương lập nghiệp, theo chính sách kinh tế mới của Nhà nước. Trong giai đoạn đầu, cuộc sống của dân kinh tế mới gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, những gia đình nào bám trụ được thì sau đó cuộc sống dần được cải thiện và một số đã trở thành những chủ trang trại lớn. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, cuộc sống du canh du cư trước đây chấm dứt hẵn từ sau giải phóng do các chương trình, dự án định canh, định cư.
Đời sống vật chất, tinh thần ngày một được cải thiện do họ càng ngày càng thích nghi hơn với điều kiện sinh hoạt và canh tác mới. Trong giai đoạn tỉnh phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, hầu hết di dân từ các tỉnh đến Bình Dương tham gia lao động tại các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp; tập trung nhiều nhất ở các huyện Dĩ An, Thuận An, kế đến là thị xã Thủ Dầu Một và huyện Bến Cát. Năm 2005, toàn tỉnh có khoảng 300.000 lao động nhập cư. Đây là lực lượng lao động, là nguồn nhân lực hết sức quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Nhiều người trong số đó đã có cuộc sống ổn định và trở thành cư dân của tỉnh, vừa góp phần tăng dân số, vừa thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Bình Dương trở nên nhanh chóng hơn. 21 Tính đến cuối tháng 12 năm 2005, dân số toàn tỉnh Bình Dương là 1.722 người, trong đó, nam là 493.527 người, chiếm 47,9%; nữ là 537.195 người, chiếm 52,1% [20, tr. Ngoài người Việt (người Kinh), Bình Dương có khoảng gần 7.700 người dân tộc ít người (bao gồm 16 dân tộc: Khơme, Chăm, Tày, Nùng, Tà mun, Stiêng, Châu Ro, Mường, Thái, Sán Dìu, Sán Chỉ, Dao, Tà ôi, Ê Đê, Raglai.000 người Hoa. Như vậy, dân cư Bình Dương được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, xuất thân họ là dân "tứ chiếng" vốn được kế thừa truyền thống lao động cần cù, tính chịu thương, chịu khó của người nông dân lao động nghèo khổ, một nắng hai sương.
Hơn nữa, họ được kế thừa đức tính dám nghĩ, dám làm của các thế hệ cha anh - những người dám vượt biển, trèo non, đối mặt với rừng sâu, thú dữ để khai phá vùng đất phương Nam. Những tính cách đó dưới tác động của các điều kiện tự nhiên, xã hội phương Nam, làm cho cư dân Bình Dương có thêm lòng nghĩa hiệp, mến khách và lòng chân thành. Rồi trải qua các quá trình khai phá, lập làng, đấu tranh chống áp bức bất công và chống xâm lược, người Bình Dương ngày càng trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đời sống vật chất Do điều kiện tự nhiên thích hợp, nên Bình Dương xưa có nền kinh tế nông nghiệp phát triển, lương thực dư thừa, cuộc sống no đủ, sung túc.
Bên cạnh đó, các nghề thủ công cũng làm cho cuộc sống cư dân Bình Dương có thêm thu nhập lúc nông nhàn. Suốt hơn hai thế kỷ tiếp theo, kể từ khi dân xiêu tán tiến vào phương Nam khai hoang lập ấp, vùng đất Bình Dương vốn hoang dã dần dần trở thành một vùng dân cư đông đúc, kinh tế trù phú, xã hội ổn định. Ở khắp nơi, chợ búa, dinh thự, đình, chùa. lần lượt được xây dựng với quy mô ngày một lớn hơn.
22 Tuy nhiên, sau khi thực dân Pháp xâm lược, áp đặt ách thống trị và tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa, cuộc đời nô lệ và chính sách bóc lột bằng sưu cao thuế nặng của Pháp đã làm cho cuộc sống của người dân Bình Dương lúc này trở nên khó khăn. Dù sau đó, các chính sách kinh tế - xã hội của Pháp từ 1862 đến 1945, làm cho sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp Bình Dương phát triển và ngày một có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế thuộc địa của tỉnh lúc bấy giờ, nhưng cuộc sống của người dân được cải thiện không nhiều. Đời sống văn hóa tinh thần Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Bình Dương có nhiều nét tương đồng với đời sống văn hóa tinh thần của các tỉnh khác ở Nam Bộ. Điều này thể hiện rõ khi nghiên cứu cấu trúc văn hóa - xã hội và những luật, tục, gia phong có nguồn gốc lâu đời vẫn tồn tại nơi đây như những triết lý sống không thể gỡ bỏ.
Đó là việc thực hành các lễ tục trong đời người như: sinh nhật, đáo tuế, thượng thọ, ma chay, cưới hỏi, hay cơ cấu tổ chức của một gia đình. Dù trải qua thời gian, cuộc sống cởi mở của người dân ở một vùng đất mới cũng làm cho phong hóa gia đình có phần biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới. Nhưng sự biến đổi này không theo xu hướng “biến mất” mà là sự “cải biến” những tục lệ cũ sao cho giản đơn, dễ thực hiện hơn trong nhịp sống sôi động, hối hả thường nhật diễn ra ở cả thành thị lẫn vùng thôn quê hẻo lánh. Cũng như phần đông các tỉnh Nam Bộ, cùng với tín ngưỡng dân gian của người dân, ở Bình Dương còn có nhiều tôn giáo khác nhau.
Đạo Phật được truyền vào Bình Dương khoảng cuối thế kỷ XVI và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng cư dân. Đạo Công giáo vào Bình Dương khoảng đầu thế kỷ XVII, dù không mạnh như Phật giáo, nhưng số lượng tín đồ cũng khá lớn và phát triển tương đối nhanh, nhất là sau khi thực dân Pháp hoàn tất việc tổ chức bộ 23 máy cai trị. Đặc biệt, từ năm 1954, hàng chục nghìn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc vào định cư ở Bình Dương. Đạo Tin Lành phát triển ở Bình Dương vào những năm 1923-1924; đa số thuộc Tổng Liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) [345, tr.
Ngoài ra, ở Bình Dương còn có tín đồ Đạo Cao đài với các hệ phái như: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Chơn Lý, Cao đài Ban Chỉnh, Cao đài Tiên Thiên. Cùng với tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng, tôn giáo, các lễ hội văn hóa truyền thống cũng được cư dân ở Bình Dương quan tâm. Đó là lễ hội đình, lễ hội miếu, lễ hội võ, lễ hội tổ nghề, lễ hội chùa Phật, lễ hội thờ Mẫu của đồng bào miền Bắc, lễ hội chùa Bà của người Hoa. Hàng năm cư dân Bình Dương còn tổ chức các lễ hội ở đình làng, đó là lễ Tiết tứ thời: Đưa thần (25/12), Rước thần (30/12), Nguyên đán (1/1), Đoan ngọ (5/5), Khai sơn (7/7).
và các lễ Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên mang tính chất tôn giáo. Các ngày lễ mang tính dân gian như lễ cúng miếu, cầu an tống phong. Nhưng quan trọng nhất là lễ Kỳ yên theo tập tục xưa được phân ra hai kỳ lễ: lễ Hạ điền và lễ Thượng điền [58, tr. Tuy nhiên, bên cạnh cơ cấu văn hóa cổ truyền của cư dân Bình Dương, trong hơn 80 năm cai trị, thực dân Pháp đã làm cho hơn 90% dân số trong toàn tỉnh không biết chữ.
Đó cũng chính là vấn nạn văn hóa - giáo dục mà cư dân Bình Dương mang theo trước khi bước vào các giai đoạn lịch sử sau năm 1945. ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHÍNH Do tác động của những biến cố chính trị - xã hội, kể từ khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, xác lập địa lý hành chính cho đến ngày nay, địa lý hành chính Bình Dương luôn thay đổi. Dưới triều Nhà Nguyễn, vùng đất Bình Dương thuộc tổng Bình An, tỉnh Biên Hòa. Đến thời Gia Long, tổng Bình An được nâng lên thành huyện Bình An, có hai tổng là An Thủy và Phước Chánh, 24 bao gồm các vùng đất: Bến Cát, Dầu Tiếng, Hớn Quản, Lộc Ninh, Lái Thiêu và một phần đất của huyện Ngãi An (Thủ Đức ngày nay), huyện lỵ đặt tại Phú Cường.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu: “Từ năm 1808 đến năm 1837, huyện Bình An chia làm 10 tổng là: Bình Chánh, Bình Điền, Bình Thiện, Bình Thổ, Bình Hưng, An Bình, An Điền, An Thành, An Thổ, An Thủy.