Tổng quan luận án

Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam khởi xướng đã thúc đẩy nền kinh tế chuyển dịch từ mô hình dựa vào nông nghiệp sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đi liền với tiến trình này, đô thị hóa trở thành một động lực phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, thể hiện rõ nét tại Thủ đô Hà Nội và các vùng ven đô. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng cũng tạo ra nhiều áp lực và bất cập đối với khu vực nông thôn ngoại thành, đặc biệt là các vấn đề về chuyển đổi cơ cấu sản xuất, giải quyết việc làm cho lao động mất đất nông nghiệp, ô nhiễm môi trường và sự biến đổi lối sống của cư dân bản địa.

Huyện Từ Liêm nằm ở vị trí cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, là địa bàn diễn ra quá trình đô thị hóa với tốc độ rất nhanh. Trước thời điểm giải thể vào cuối năm 2013, huyện có 15 xã và 01 thị trấn với diện tích tự nhiên 75,15 km², dân số 177,3 nghìn người, tập trung khoảng 300 dự án đầu tư với hàng nghìn hécta đất nông nghiệp được thu hồi để phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về đô thị hóa tại vùng ven Hà Nội dưới các góc độ kinh tế học, xã hội học, nhân học, văn hóa học và quy hoạch đô thị, nhưng các nghiên cứu tiếp cận một cách toàn diện, có hệ thống dưới góc độ khoa học lịch sử đối với sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Từ Liêm trong suốt giai đoạn lịch sử 1996 - 2013 vẫn còn thiếu vắng.

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử với đề tài "Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội dưới tác động của quá trình đô thị hóa từ năm 1996 đến năm 2013" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trình bày và phân tích thực trạng chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2013 dưới tác động của quá trình đô thị hóa; trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét về những thành tựu cũng như hạn chế của quá trình này.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Giới thiệu khái quát về huyện Từ Liêm và vấn đề đô thị hóa ở Hà Nội và huyện Từ Liêm từ năm 1996 đến năm 2013 - cơ sở tác động đến sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện trong giai đoạn này.
  2. Làm rõ chuyển biến về kinh tế (bao gồm chuyển biến về cơ cấu kinh tế, sự phát triển của các ngành kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ) và chuyển biến về xã hội (dân cư, văn hóa - giáo dục, y tế, môi trường) của huyện Từ Liêm từ năm 1996 đến năm 2013.
  3. Bước đầu đưa ra một số nhận xét về chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Từ Liêm dưới tác động của đô thị hóa từ năm 1996 đến năm 2013 trên cả mặt thành tựu và hạn chế; đồng thời nêu một số vấn đề đặt ra đối với địa phương trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong thời gian tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội dưới tác động của quá trình đô thị hóa.
  • Phạm vi không gian: Huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong khung nghiên cứu gồm 15 xã và 01 thị trấn (Mỹ Đình, Tây Tựu, Phú Diễn, Minh Khai, Thượng Cát, Liên Mạc, Thụy Phương, Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, Trung Văn, Mễ Trì, Tây Mỗ, Đại Mỗ, Xuân Phương và thị trấn Cầu Diễn).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2013.
    • Mốc năm 1996: Thời điểm đất nước và thành phố Hà Nội đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XII; đồng thời là năm Hà Nội điều chỉnh địa giới hành chính thành lập các quận mới (Thanh Xuân, Cầu Giấy), xác lập cơ cấu hành chính 15 xã và 1 thị trấn của huyện Từ Liêm.
    • Mốc năm 2013: Thời điểm Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập hai quận mới là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm, huyện Từ Liêm chính thức hoàn thành vai trò một đơn vị hành chính cấp huyện.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chuyển biến kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ) và chuyển biến xã hội (dân cư, lao động - việc làm, văn hóa - giáo dục, y tế, môi trường và biến đổi đời sống cư dân), cùng các nhận xét, đánh giá về thành tựu và hạn chế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích một khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:

1. Các nghiên cứu về kinh tế, xã hội và vấn đề đô thị hóa nói chung

  • Nghiên cứu về kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới: Các công trình của Trường Chinh (1987), Nguyễn Văn Linh (1987), Lê Xuân Trinh cùng nhóm tác giả (1990), Phạm Xuân Nam (chủ biên, 1991; bài viết năm 2001 trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử), bộ chuyên đề 3 tập Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay (1991), Trương Thị Tiến (1999), Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam trong thế kỷ XX (2001), Nguyễn Văn Thường (chủ biên, 2004), Nguyễn Phú Trọng (chủ biên, 2006), Đặng Thị Loan - Lê Du Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên, 2006), Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú (2006), Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên, 2006), Vũ Đình Bách (chủ biên, 2008), Ari Kokko (chủ biên, Nxb Thế giới), tập sách Những vấn đề kinh tế - xã hội ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nxb ĐHQGHN, 2010), công trình Phát triển bền vững kinh tế - xã hội các thành phố theo hướng hiện đại (Nxb CTQG & Sự thật, 2012), Nguyễn Ngọc Hà (2012), Lê Quang Phi (luận án tiến sĩ, 2012), Viện Sử học (Lịch sử Việt Nam - Tập 15, 2014/2017), Phạm Quý Thọ (2015), Nguyễn Sinh Cúc (1991, 2005), Lê Đình Thắng (1998), Trung tâm Nghiên cứu địa lý nhân văn do Nguyễn Ngọc Tuấn chủ biên (2003), Phan Thanh Khôi - Lương Xuân Hiến (2006), Lê Thông (2009), Phạm Thị Khanh (2010), Trịnh Thị Ái Hoa (2010), Đặng Thị Kim Oanh (2005), Nguyễn Văn Bích (1994).
  • Nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa: Các công trình của Trần Văn Bính (1997), Nguyễn Thế Bá (1998), Trần Ngọc Hiên - Trần Văn Chử (1998), Lê Thanh Sang (2008), Nguyễn Thanh Tuấn (2006), các nghiên cứu lý thuyết của Đào Thế Tuấn, Tôn Nữ Quỳnh Trân, Ngô Vương Anh, Ngô Thắng Lợi; cùng các công trình của các chuyên gia quốc tế như Micheal Leaf (1993, 1996, 2000), Pandolfi Laurent (2000), Mike Douglass (2008), Lisa Drummond (2008), Timothy M. Gorman (2008).

2. Các nghiên cứu về kinh tế, xã hội và đô thị hóa tại thành phố Hà Nội

  • Các ấn phẩm nghiên cứu vùng ngoại thành và ven đô: Sách chuyên khảo Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội: thực trạng và giải pháp (Nxb CTQG, 2002); Nguyễn Hữu Minh (2005); Trần Đức Ngôn (2005); Ngô Văn Giá (2007); Lê Tiêu La (2007); Nguyễn Thị Hải Vân (2013); Lê Tiến Dũng (luận án tiến sĩ, 2016); Phạm Hùng Cường (luận án tiến sĩ, 2001); Lê Văn Nãi (2004); Phan Thị Mai Hương (2008, 2010); Đỗ Thị Lệ Hằng (2008); Nguyễn Văn Sửu (2014).
  • Các nghiên cứu trường hợp cụ thể tại làng, xã, phường Hà Nội: Trịnh Duy Luân (1999, trường hợp Dịch Vọng; 2000); Trần Thị Hồng Yến (2013, trường hợp Trung Kính Thượng, thôn Tây/Nhật Tân, làng Thanh Trì); Nguyễn Đình Tuấn (luận án tiến sĩ, 2013, trường hợp Định Công và Minh Khai); Nguyễn Thị Thùy Dương (2011, trường hợp Phúc Xá); Bùi Thị Kim Phượng (trường hợp Nhân Chính); Lương Hồng Quang (chủ biên, 2011, Câu chuyện làng Giang).

3. Các nghiên cứu trực tiếp về địa bàn huyện Từ Liêm

  • Nhóm lịch sử địa phương: Các bộ sách Lịch sử cách mạng huyện Từ Liêm (2 tập), Lịch sử Đảng bộ huyện Từ Liêm (1930-2010), các công trình lịch sử cách mạng các xã Minh Khai, Thụy Phương, Đại Mỗ, Thượng Cát, Đông Ngạc; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bình (2009) về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Từ Liêm đối với phát triển nông nghiệp giai đoạn 1986-2005.
  • Nhóm bài viết chuyên đề và kỷ yếu hội thảo: Nghiên cứu của Nguyễn Văn Sửu (2008) về thu hồi đất và sinh kế nông dân; Nguyễn Thị Phương Châm (2014) về chuyển đổi sinh kế tại Xuân Đỉnh; Đỗ Lan Phương (2014) về biến đổi lễ hội tại Xuân Đỉnh.
  • Nhóm luận án, luận văn chuyên sâu: Kim Jong Ouk (luận án tiến sĩ, 2009, trường hợp làng Mễ Trì cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX); Nguyễn Thị Thọ (luận văn thạc sĩ, 2005, về phát triển làng nghề Từ Liêm); Ngô Thái Hà (luận văn thạc sĩ, 2007, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Từ Liêm); Kim Kyung (luận văn thạc sĩ, 2009, trường hợp làng bún Phú Đô); Bùi Văn Tuấn (luận văn thạc sĩ, 2012, trường hợp xã Mễ Trì; luận án tiến sĩ, 2017, về biến đổi xã hội vùng ven đô Từ Liêm 1996-2013); Trần Thị Hồng Bích (luận văn thạc sĩ, 2014, về giải quyết việc làm cho nông dân mất đất Từ Liêm).

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án

Tác giả luận án khẳng định các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp luận và dữ liệu thực chứng giá trị về từng mặt riêng biệt (kinh tế, sinh kế, lễ hội, việc làm, tâm lý cư dân) hoặc trên phạm vi vi mô (từng thôn, xã). Tuy nhiên, chưa có một công trình nào tiếp cận dưới góc độ khoa học lịch sử để dựng lại bức tranh toàn diện, hệ thống về quá trình chuyển biến đồng thời cả hai lĩnh vực kinh tế và xã hội trên quy mô toàn bộ không gian huyện Từ Liêm (gồm 15 xã và 1 thị trấn) trong toàn bộ khung thời gian từ khi mở rộng đô thị hóa năm 1996 đến khi thành lập hai quận mới năm 2013.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử, sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Được vận dụng để xem xét, phục dựng các sự kiện, số liệu, quá trình chuyển biến kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Từ Liêm theo đúng tiến trình thời gian từ năm 1996 đến năm 2013.
  • Phương pháp logic: Được vận dụng nhằm xâu chuỗi, kết nối các sự kiện, phân tích mối quan hệ bản chất giữa chủ trương chính sách, tác động của đô thị hóa với sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và đời sống xã hội một cách hệ thống, khách quan.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để xử lý khối lượng tư liệu, số liệu thống kê kinh tế - xã hội từ các báo cáo chính thức, nhằm phân tích bản chất và đánh giá giá trị khoa học của sự kiện.
  • Phương pháp so sánh: Được vận dụng để so sánh các chỉ số kinh tế - xã hội của huyện Từ Liêm giữa các giai đoạn (1996-2000, 2001-2005, 2006-2010, 2010-2013), đồng thời so sánh đối sánh giữa huyện Từ Liêm với các huyện ngoại thành khác của Hà Nội (như Thanh Trì, Gia Lâm).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Luận án khai thác bốn nhóm tư liệu chính:

  1. Văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam về kinh tế - xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
  2. Các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội định kỳ của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội và Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Từ Liêm.
  3. Các công trình sách chuyên khảo, bài báo trên tạp chí khoa học chuyên ngành, luận án, luận văn, kỷ yếu hội thảo khoa học liên quan đến Hà Nội và Từ Liêm.
  4. Tài liệu điều tra, khảo sát thực tế về đô thị hóa và đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Từ Liêm do tác giả trực tiếp thực hiện.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án gồm phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 5 chương nội dung chính:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận chi tiết toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chuyển biến kinh tế - xã hội, đô thị hóa ở Việt Nam, Hà Nội và huyện Từ Liêm; chỉ rõ những kết quả luận án kế thừa và xác lập khoảng trống khoa học mà đề tài tập trung giải quyết.

Chương 2: Khái quát về huyện Từ Liêm và vấn đề đô thị hóa huyện Từ Liêm từ năm 1996 đến năm 2013

  • Thực trạng trước năm 1996: Kinh tế Từ Liêm chủ yếu dựa vào nông nghiệp, công nghiệp và thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ. Đời sống văn hóa - xã hội từng bước phát triển; đến năm 1985 toàn huyện có 27 thư viện tại 27 xã, thị trấn.
  • Chủ trương của Thành phố Hà Nội và Huyện Từ Liêm:
    • Thành phố Hà Nội: Đại hội Đảng bộ lần thứ XII (1996), XIII (2000), XIV (2006) định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp, sau đó chuyển sang dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp; mục tiêu giá trị nông nghiệp đạt 40-45 triệu đồng/ha (năm 2000) và 70 triệu đồng/ha (giai đoạn 2006-2010).
    • Huyện Từ Liêm: Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (1996-2000), XX (2001-2005), XXI (2006-2010), XXII (2010-2015) ban hành các chương trình trọng điểm như Chương trình 01/CTr-HU, Chương trình 03, Chương trình 26, Chương trình 04/CTr/HU, Chương trình 06-CTr/HU nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển cụm công nghiệp, giải quyết việc làm và xây dựng vùng đô thị mới.
  • Bối cảnh đô thị hóa Hà Nội: Tỷ lệ đô thị hóa cả nước tăng từ 18,5% (1989) lên 20,7% (1995), 24,2% (2000), 27% (2006) và 29,6% (2010). Dân số Hà Nội tăng từ 2 triệu người (1990) lên 2,67 triệu (2000) và 6,611 triệu (2010); thu nhập bình quân đầu người tăng từ 7,4 triệu đồng (2000) lên 36 triệu đồng (2010). Quy hoạch hình thành hơn 40 khu đô thị mới với gần 500 nhà cao tầng (năm 2010) và 5 đô thị vệ tinh (Sóc Sơn, Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên).
  • Biến động địa giới hành chính: Sau Nghị định 74/NĐ-CP (1996-1997) chia tách xã Nhân Chính về quận Thanh Xuân và 7 đơn vị xã/thị trấn để thành lập quận Cầu Giấy, huyện Từ Liêm còn lại 15 xã và 1 thị trấn (diện tích 75,15 km², dân số 177,3 nghìn người) cho đến khi giải thể thành lập quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm theo Nghị quyết 132/NQ-CP ngày 27/12/2013.

Bảng tổng hợp biến động địa giới hành chính một số huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 1996 - 2013 theo văn bản:

Tên huyện Thời điểm và sự kiện điều chỉnh Hiện trạng hành chính sau điều chỉnh
Từ Liêm - Năm 1996: Chuyển xã Nhân Chính về quận Thanh Xuân.
- Năm 1997: Chuyển 4 thị trấn (Cầu Giấy, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân) và 3 xã (Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa) thành lập quận Cầu Giấy.
- Ngày 27/12/2013: Nghị quyết 132/NQ-CP giải thể huyện để thành lập hai quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm.
Còn 15 xã và 01 thị trấn (diện tích 75,15 km², dân số 177,3 nghìn người) trong suốt giai đoạn 1997 đến trước ngày 27/12/2013.
Thanh Trì - Năm 1997: Chuyển xã Khương Đình về quận Thanh Xuân.
- Năm 2003 (Nghị định 132/2003/NĐ-CP): Chuyển 9 xã về quận Hoàng Mai.
Còn 15 xã và 01 thị trấn Văn Điển (diện tích 63,17 km²).
Gia Lâm - Năm 2003 (Nghị định 132/2003/NĐ-CP): Chuyển giao 13 xã, thị trấn để thành lập quận Long Biên. Còn 21 xã và 01 thị trấn (diện tích 114 km², dân số trên 204 nghìn người).
  • Sự hình thành các khu, cụm công nghiệp tại Từ Liêm:
    • Khu công nghiệp Nam Thăng Long: Do thành phố quản lý, chia làm Khu A (công nghệ hỗ trợ) và Khu B (xí nghiệp công nghiệp sạch).
    • Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm: Gồm 84 doanh nghiệp (tiêu biểu: Nhà máy bia Sài Gòn - Hà Nội, Công ty Inox Sơn Hà với doanh thu 1.819,8 tỷ đồng/năm, chiếm 40-60% thị phần bồn inox cả nước, Công ty Cổ phần Thú y xanh).
    • Cụm công nghiệp tập trung vừa và nhỏ Minh Khai: Triển khai từ 2001; giai đoạn 1 thu hút 32 doanh nghiệp (~1.000 lao động), giai đoạn 2 mở rộng (đến năm 2010 có 32 doanh nghiệp giai đoạn 1 và 34/50 doanh nghiệp giai đoạn 2 đi vào sản xuất).
    • Cụm công nghiệp Phú Minh: Thuộc Cổ Nhuế và Phú Diễn, gồm 27 doanh nghiệp sản xuất bao bì, in nhuộm, phụ tùng ô tô xe máy.

Chương 3: Chuyển biến kinh tế của huyện Từ Liêm

Trình bày diễn trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự tăng trưởng của các ngành:

  • Cơ cấu kinh tế chuyển biến mạnh mẽ từ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn sang mô hình công nghiệp - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp.
  • Nông nghiệp chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị, giảm diện tích canh tác truyền thống, đẩy mạnh thâm canh cây trồng giá trị cao.
  • Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng nhanh nhờ hình thành các khu, cụm công nghiệp tập trung và chuyển đổi làng nghề truyền thống.
  • Thương mại và dịch vụ mở rộng quy mô, hình thành các chuỗi dịch vụ phục vụ đời sống đô thị, dịch vụ nhà trọ, ăn uống, vận tải hàng hóa.

Chương 4: Chuyển biến xã hội của huyện Từ Liêm

Làm rõ các mặt biến đổi xã hội dưới tác động của đô thị hóa:

  • Cơ cấu dân cư và lao động: Dân số cơ học tăng nhanh do lượng người nhập cư; tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm mạnh, chuyển dịch sang lao động công nghiệp, dịch vụ và các hoạt động kinh tế phi chính thức.
  • Văn hóa - giáo dục và y tế: Mạng lưới trường học, trạm y tế được xây dựng nâng cấp; nếp sống văn minh đô thị đan xen với các giá trị văn hóa làng xã truyền thống.
  • Môi trường sống: Nảy sinh các vấn đề ô nhiễm môi trường nước, rác thải do xây dựng khu đô thị và sản xuất công nghiệp; không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống bị thu hẹp.

Chương 5: Một số nhận xét

  • Đánh giá tổng hợp các thành tựu: Kinh tế tăng trưởng cao, hạ tầng kỹ thuật và xã hội được hiện đại hóa, đời sống vật chất và thu nhập người dân được nâng cao rõ rệt.
  • Chỉ ra các hạn chế: Quản lý đất đai và quy hoạch đô thị còn bất cập; công tác đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho nông dân mất đất chưa theo kịp thực tế; phân hóa giàu nghèo gia tăng; nảy sinh tệ nạn xã hội và ô nhiễm môi trường.
  • Đề xuất các vấn đề đặt ra cho địa phương nhằm hướng tới phát triển bền vững sau khi chuyển đổi mô hình quản lý sang quận đô thị.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Luận án đã tập hợp và hệ thống hóa một khối lượng tư liệu toàn diện về quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội huyện Từ Liêm từ năm 1996 đến năm 2013.
  • Dưới góc độ khoa học lịch sử, luận án phục dựng khách quan, đầy đủ tiến trình chuyển biến kinh tế, xã hội của một huyện ngoại thành tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Luận án bổ sung tư liệu và góc nhìn lịch sử vào hệ thống các đề tài nghiên cứu về nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, làm rõ quy luật vận động và những hệ quả của quá trình đô thị hóa vùng ven đô.

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp

  • Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, chuyển đổi nghề nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội tại các vùng ven đô đang đô thị hóa.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử địa phương Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian từ năm 1996 đến tháng 12/2013 (thời điểm huyện Từ Liêm giải thể) và không gian 15 xã, 01 thị trấn; chủ yếu tiếp cận theo phương pháp lịch sử và phân tích tư liệu lưu trữ, thống kê lịch sử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự phát triển kinh tế - xã hội của hai quận mới thành lập là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm từ sau năm 2013 đến nay; nghiên cứu đối sánh sự chuyển biến sau đô thị hóa giữa Từ Liêm với các vùng ven đô khác của các đô thị đặc biệt tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Địa lý kinh tế, Xã hội học và Đô thị học.
    • Cán bộ hoạch định chính sách, cán bộ quản lý đô thị tại Hà Nội và các địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh.
  • Nội dung giá trị: Hệ thống dữ liệu lịch sử về quá trình điều chỉnh địa giới hành chính; các số liệu thống kê về khu công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu ngành và giải quyết vấn đề xã hội vùng ven đô giai đoạn 1996 - 2013.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2013 của luận án là gì?

Mốc năm 1996 là thời điểm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XII xác định bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời là năm Hà Nội tách địa giới hành chính thành lập quận Thanh Xuân và Cầu Giấy, đưa huyện Từ Liêm về cơ cấu 15 xã và 1 thị trấn. Mốc năm 2013 là thời điểm Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 giải thể huyện Từ Liêm để thành lập hai quận mới là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm.

2. Sự thay đổi địa giới hành chính của huyện Từ Liêm giai đoạn 1996 - 1997 diễn ra như thế nào?

Năm 1996, huyện Từ Liêm bàn giao xã Nhân Chính (diện tích 160,9 ha; 9.229 nhân khẩu) về quận Thanh Xuân theo Nghị định 74/NĐ-CP. Năm 1997, huyện tiếp tục bàn giao 4 thị trấn (Cầu Giấy, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân) và 3 xã (Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa) với diện tích 1.914 ha để thành lập quận Cầu Giấy. Sau điều chỉnh, huyện Từ Liêm còn lại 15 xã và 1 thị trấn Cầu Diễn với diện tích 75,15 km² và dân số 177,3 nghìn người.

3. Huyện Từ Liêm đã hình thành những khu và cụm công nghiệp trọng điểm nào trong giai đoạn 1996 - 2013?

Huyện Từ Liêm hình thành 4 khu vực phát triển công nghiệp chính gồm: Khu công nghiệp Nam Thăng Long (gồm Khu A hỗ trợ sản xuất và Khu B xí nghiệp công nghiệp); Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm (84 doanh nghiệp, có Nhà máy bia Sài Gòn - Hà Nội, Inox Sơn Hà, CP Thú y xanh); Cụm công nghiệp tập trung vừa và nhỏ Minh Khai (giai đoạn 1 thu hút 32 doanh nghiệp với khoảng 1.000 lao động; giai đoạn 2 mở rộng 50 doanh nghiệp); và Cụm công nghiệp Phú Minh (27 doanh nghiệp).

4. Điểm khác biệt căn bản trong cách tiếp cận của luận án so với các công trình đi trước là gì?

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế học, xã hội học, nhân học, văn hóa học hoặc nghiên cứu từng địa bàn xã/làng riêng lẻ. Luận án này tiếp cận chuyên sâu dưới góc độ khoa học lịch sử, bám sát tiến trình thời gian để phục dựng bức tranh toàn diện, đồng bộ về cả chuyển biến kinh tế và xã hội trên toàn bộ địa bàn 15 xã và 1 thị trấn của huyện Từ Liêm trong suốt 17 năm (1996 - 2013).


Kết luận

Luận án tiến sĩ đã phục dựng có hệ thống quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 1996 - 2013 dưới tác động của đô thị hóa. Công trình làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, thương mại, dịch vụ gắn liền với quá trình hình thành các khu, cụm công nghiệp và khu đô thị mới. Đồng thời, luận án phân tích khách quan những thành tựu về hạ tầng, đời sống cư dân cũng như các hạn chế về việc làm, xã hội và môi trường, cung cấp nguồn tư liệu lịch sử xác thực cho công tác nghiên cứu và quản lý đô thị vùng ven.