Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn với khoảng 11 triệu hộ chuyên canh sản xuất nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng trên cả nước mỗi năm chuyển đổi khoảng 50.000 đến 60.000 ha đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp, kéo theo ước tính trung bình 1,5 lao động trên mỗi hộ gia đình mất đi sinh kế truyền thống. Vấn đề thu hồi đất không chỉ làm suy giảm diện tích canh tác mà còn gây xáo trộn sâu sắc đến cấu trúc an sinh xã hội và khả năng duy trì mức sống ổn định của người nông dân.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tác động của quá trình đô thị hóa đến chuyển dịch kinh tế - xã hội và biến động các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình bị thu hồi đất. Đề tài tập trung phân tích thực trạng tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn 2010 - 2015, với điểm khảo sát thực địa chuyên sâu tại hai dự án trọng điểm là Khu đô thị Vĩnh Điềm Trung và Khu đô thị VCN Phước Hải.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng khi cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm phục vụ công tác hoạch định chính sách bồi thường, tái định cư và giải quyết việc làm. Kết quả đề tài hướng tới mục tiêu hỗ trợ các cấp quản lý giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động mất đất xuống dưới mức 10%, đồng thời thúc đẩy thu nhập bình quân của các hộ dân trong vùng dự án tăng trưởng tối thiểu 15% sau 3 đến 5 năm ổn định đời sống mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh ban hành năm 1999 làm nền tảng phân tích chủ đạo. Khung lý thuyết này tiếp cận sinh kế thông qua sự tương tác giữa bối cảnh dễ bị tổn thương, các định chế chính sách và 5 nguồn vốn cốt lõi của hộ gia đình gồm: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết về chiến lược sinh kế của Seppala đưa ra năm 1996 nhằm phân loại các phản ứng thích ứng của nông hộ thành 3 nhóm: chiến lược tích lũy dài hạn, chiến lược tái sản xuất trung hạn và chiến lược sinh tồn ngắn hạn. Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm: đô thị hóa theo tiêu chuẩn Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, tài sản sinh kế và tính bền vững kinh tế hộ gia đình sau giải tỏa.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với tổng quy mô mẫu là 60 hộ gia đình chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hai dự án phát triển đô thị tại thành phố Nha Trang. Mẫu khảo sát được chia đều thành 3 nhóm đại diện: Nhóm 1 gồm 20 hộ bị thu hồi hoàn toàn 100% diện tích đất nông nghiệp, Nhóm 2 gồm 20 hộ bị thu hồi từ 50% đến dưới 100% diện tích đất, và Nhóm 3 gồm 20 hộ bị thu hồi dưới 50% diện tích đất canh tác.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua bảng hỏi cấu trúc phỏng vấn trực tiếp chủ hộ, kết hợp tọa đàm nhóm và phỏng vấn sâu cán bộ chuyên trách tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Phòng Kinh tế thành phố cùng Ủy ban nhân dân cấp phường. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ niên giám thống kê thành phố giai đoạn 2010 - 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, thống kê phân tổ kinh tế và phân tích so sánh đối chiếu chỉ số trước và sau thời điểm thu hồi đất. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh này giúp định lượng chính xác biên độ thay đổi về thu nhập, việc làm, cơ cấu tài sản, đồng thời bóc tách rõ nét những tác động khách quan của biến cố thu hồi đất trên phần mềm xử lý dữ liệu chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích 60 hộ điều tra chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về sự biến động sinh kế:

Thứ nhất, diện tích đất canh tác bình quân sụt giảm nghiêm trọng từ mức khoảng 1.500 m2/hộ trước thu hồi xuống còn 0 m2/hộ ở Nhóm 1 (giảm 100%) và giảm hơn 65% diện tích ở Nhóm 2, làm suy giảm hoàn toàn nguồn vốn tự nhiên phục vụ sản xuất truyền thống.

Thứ hai, cơ cấu lao động có sự chuyển dịch cưỡng bức rõ rệt. Tỷ lệ lao động làm việc thuần nông giảm mạnh từ trên 68% trước thu hồi xuống còn khoảng 18% sau thu hồi. Tỷ trọng lao động phi nông nghiệp và lao động tự do thời vụ tăng vọt lên mức 58%, nhưng tính chất công việc thiếu tính ổn định lâu dài.

Thứ ba, nguồn vốn tài chính của các hộ gia tăng nhanh chóng nhờ nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng, tuy nhiên có đến hơn 72% tổng số tiền đền bù được người dân sử dụng cho các nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn như xây dựng nhà ở, mua sắm xe máy và thiết bị gia dụng. Chỉ có khoảng 16% lượng tiền được tích lũy gửi tiết kiệm hoặc tái đầu tư sản xuất kinh doanh.

Thứ tư, thu nhập bình quân ghi nhận sự phân hóa sâu sắc: khoảng 25% số hộ có điều kiện mở dịch vụ buôn bán nhỏ đạt mức tăng trưởng thu nhập khả quan, trong khi gần 45% số hộ có lao động lớn tuổi rơi vào cảnh sụt giảm thu nhập thực tế khoảng 30% do mất nguồn nông sản tự cung tự cấp.

Thảo luận kết quả

Sự biến động sinh kế của người dân tại Nha Trang phản ánh quy luật chuyển dịch kinh tế tất yếu khi mở rộng không gian đô thị. Việc suy giảm diện tích đất canh tác đã phá vỡ chu trình sản xuất nông nghiệp khép kín. Tuy nhiên, rào cản về trình độ học vấn khi phần lớn chủ hộ chỉ hoàn thành bậc trung học cơ sở đã khiến họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường lao động kỹ thuật cao.

Để trực quan hóa các kết quả này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép so sánh cơ cấu thu nhập giữa các ngành nghề trước và sau thu hồi đất, kết hợp bảng cân đối phân bổ 5 nguồn vốn sinh kế theo mô hình mạng nhện nhằm làm nổi bật sự đứt gãy giữa gia tăng vốn vật chất ngắn hạn và suy thoái vốn tự nhiên dài hạn.

So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm tại huyện Việt Yên thuộc tỉnh Bắc Giang hay xã An Khánh thuộc thành phố Hà Nội, thực trạng tại thành phố Nha Trang cho thấy tính tương đồng cao: tiền đền bù bằng tiền mặt nếu không đi kèm định hướng chuyển đổi nghề căn cơ sẽ nhanh chóng cạn kiệt sau khoảng 3 năm, đẩy người nông dân vào nhóm dễ bị tổn thương kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Tổ chức đào tạo nghề theo địa chỉ sử dụng: Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ và khu công nghiệp mở các khóa đào tạo nghề may, cơ khí, lễ tân và kỹ năng bán hàng. Mục tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ trên 75% lao động trong độ tuổi có nhu cầu được đào tạo nghề chuyên sâu, triển khai đồng bộ từ năm 2016 đến năm 2018.

Thực hiện cơ chế giao quỹ đất dịch vụ thương mại 10%: Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền cơ sở quy hoạch và bàn giao quỹ đất dịch vụ tại các trục đường giao thông chính cho các hộ bị thu hồi từ 30% diện tích đất sản xuất trở lên. Mục tiêu giải quyết mặt bằng kinh doanh cho ít nhất 500 lao động chuyển đổi sang buôn bán nhỏ trong giai đoạn 2017 - 2020.

Đơn giản hóa quy trình tín dụng ưu đãi theo Quyết định số 479/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội Khánh Hòa triển khai gói tín dụng giải quyết việc làm bằng hình thức tín chấp thông qua phương án sản xuất khả thi thay vì bắt buộc thế chấp tài sản nhà đất. Mục tiêu giải ngân khoảng 50 tỷ đồng vốn vay ưu đãi với thời gian hỗ trợ lãi suất trong 3 năm đầu cho 100% hộ dân có nhu cầu chuyển đổi kinh tế.

Thành lập các hợp tác xã dịch vụ công ích đô thị: Hội Nông dân thành phố phối hợp các phường thành lập các tổ hợp tác vệ sinh môi trường, chăm sóc cây xanh và cung ứng dịch vụ hậu cần phục vụ các khu đô thị mới. Mục tiêu thu hút tối thiểu 40% lực lượng lao động trung niên trên 40 tuổi có việc làm thường xuyên trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng sử dụng luận văn làm tài liệu thực tiễn để xây dựng khung chính sách đền bù linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa bồi hoàn kinh tế và an sinh xã hội khi lập quy hoạch đô thị mới.

Chủ đầu tư và doanh nghiệp phát triển dự án bất động sản: Các nhà đầu tư hạ tầng đô thị khai thác tài liệu nhằm thấu hiểu nhu cầu sinh kế của cư dân vùng dự án, từ đó chủ động xây dựng phương án tuyển dụng lao động địa phương và giảm thiểu các xung đột xã hội trong công tác giải tỏa mặt bằng.

Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu: Những người làm việc trong khối ngành Quản lý Đất đai, Phát triển Nông thôn và Kinh tế Nông nghiệp có thể vận dụng khung phân tích 5 nguồn vốn DFID và quy trình chọn mẫu phân tầng 3 nhóm hộ để mở rộng nghiên cứu sang các đô thị ven biển khác.

Các tổ chức xã hội và hiệp hội nghề nghiệp: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và các tổ chức phi chính phủ sử dụng kết quả khảo sát để thiết kế các chương trình tư vấn tài chính vi mô, hướng nghiệp và hỗ trợ khởi nghiệp phù hợp với trình độ của nông dân mất đất.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao nhận số tiền đền bù lớn nhưng sinh kế của nhiều hộ nông dân vẫn không bền vững?

Tiền đền bù chỉ làm gia tăng nguồn vốn tài chính danh nghĩa trong ngắn hạn. Do thiếu kiến thức quản trị dòng tiền, hơn 72% hộ dân đã dồn ngân sách vào xây nhà và mua sắm tiêu dùng cá nhân, dẫn đến cạn kiệt vốn sau 2 đến 3 năm mà không tạo ra dòng tiền định kỳ thay thế nguồn thu nông nghiệp.

Khung sinh kế bền vững của DFID mang lại ưu thế gì trong đánh giá tác động đô thị hóa?

Mô hình DFID giúp đánh giá toàn diện 5 nguồn vốn thay vì chỉ xem xét tiêu chí thu nhập đơn thuần. Cách tiếp cận này chỉ ra chính xác điểm nghẽn của người dân là sự thiếu hụt vốn con người về tay nghề chuyên môn và sự đứt gãy của vốn xã hội khi cộng đồng làng xã bị giải tỏa.

Những rào cản lớn nhất đối với lao động nông nghiệp lớn tuổi khi tìm kiếm việc làm mới là gì?

Khảo sát cho thấy rào cản lớn nhất là nhóm lao động trên 40 tuổi có trình độ học vấn hạn chế, quen tác phong sản xuất nông hộ tự do nên rất khó thích nghi với kỷ luật công nghiệp. Các nhà máy tuyển dụng ưu tiên lao động trẻ dưới 30 tuổi, khiến nhóm lớn tuổi phải làm công việc tự do bấp bênh.

Chính sách trích lại 10% quỹ đất dịch vụ mang lại hiệu quả thực tế như thế nào?

Chính sách quỹ đất dịch vụ 10% giúp chuyển hóa tư liệu sản xuất nông nghiệp thành tư liệu kinh doanh phi nông nghiệp bền vững. Hộ gia đình có thể tự tổ chức buôn bán hoặc cho thuê mặt bằng thương mại, tạo ra nguồn thu nhập ổn định ước tính từ 5 đến 10 triệu đồng mỗi tháng.

Kinh nghiệm giải quyết việc làm nào từ các địa phương khác có thể áp dụng tại Nha Trang?

Bài học từ huyện Việt Yên thuộc tỉnh Bắc Giang cho thấy mô hình đào tạo nghề gắn với cam kết tiếp nhận của doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất. Khi chính quyền làm cầu nối đảm bảo tỷ lệ tuyển dụng sau đào tạo đạt trên 60%, quá trình chuyển dịch sinh kế của nông dân sẽ diễn ra ổn định và nhanh chóng.

Kết luận

Quá trình đô thị hóa tại thành phố Nha Trang giai đoạn 2010 - 2015 mang lại bước phát triển hạ tầng vượt bậc nhưng làm suy giảm toàn bộ diện tích đất canh tác của hàng trăm hộ nông dân.

Cơ cấu sinh kế của các hộ điều tra dịch chuyển mạnh sang khu vực phi nông nghiệp và lao động tự do với tỷ lệ chiếm hơn 58% tổng số lao động khảo sát.

Nguồn vốn tài chính từ tiền bồi thường chưa được tối ưu hóa vào hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh lâu dài mà phần lớn tiêu hao vào tiêu dùng trước mắt.

Việc ứng dụng Khung sinh kế bền vững DFID đã nhận diện rõ ràng các điểm nghẽn về vốn con người và vốn tự nhiên của cộng đồng dân cư vùng giải tỏa.

Hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm về đào tạo nghề, quỹ đất dịch vụ, tín dụng ưu đãi và hợp tác xã dịch vụ tạo tiền đề cốt lõi để bảo đảm an sinh xã hội dài hạn.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực nghiệm sâu sắc về tác động của thu hồi đất đến sinh kế nông hộ ven đô thị biển loại I. Trong giai đoạn 2016 - 2020, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị trên vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phương nhằm đảm bảo an sinh bền vững cho người dân mất đất.