Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Khái niệm đô thị Trong tiếng Việt, có nhiều từ chỉ khái niệm "đô thị" như: thành phố, đô thị, thị trấn, thị xã. Các từ đó đều có 2 thành tố: đô, thành, trấn, xã, điều này hàm nghĩa chức năng hành chính; phố, thị có nghĩa là chợ, nơi buôn bán, biểu hiện của phạm trù hoạt động kinh tế.
Hai thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại trong quá trình phát triển. Như vậy, một tụ điểm dân cư sống phi nông nghiệp và làm chức năng, nhiệm vụ của một trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế của một khu vực lớn nhỏ, là những tiêu chí cơ bản đầu tiên để định hình đô thị. Ở nước ta, Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ quy định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau: Thứ nhất, là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định; Thứ hai, quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên; Thứ 3, mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn; Thứ tư, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động; Thứ năm, hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật. Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị.
Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững; Thứ sáu về kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên (Chính phủ, 2009). Phân loại đô thị Theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ quy định về phân loại đô thị. Đô thị nước ta được chia làm 5 loại như sau: - Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. - Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
- Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. - Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. - Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Chức năng của đô thị Tùy theo mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ phát triển mà đô thị có những chức năng khác nhau, nhìn chung đô thị có một số chức năng chủ yếu sau (Chính phủ, 2009): * Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất. Do đó đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và sự phát triển cơ sở hạ tầng, tạo ra thị trường ngày một mở rộng và đa dạng hóa. Quá trình tập trung sản xuất đã kéo theo sự tập trung dân cư về nhân công lao động và gia đình, người thân của họ từ đó tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị. * Chức năng xã hội: Cùng với sự gia tăng dân số khá nhanh ở đô thị thì chức năng xã hội ngày càng có phạm vi lớn dần.
Khi nền kinh tế phát triển gắn với cơ chế thị trường thì nhu cầu về nhà ở, y tế và giao thông đi lại. ngày càng tăng. Với sự gia tăng về dân số cũng như nhu cầu của người dân đô thị làm cho chức năng xã hội ngày càng trở lên nặng nề hơn. * Chức năng quản lý: Tác động của việc quản lý chính là hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, kiến trúc và sinh thái, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của Luan van 6 cá nhân.
Cũng chính vì vậy mà chính quyền địa phương phải có những quy định, quy chế quản lý về đô thị. * Chức năng văn hóa: Với sự phát triển của các đô thị thì nhu cầu về giáo dục cũng như giải trí của người dân sẽ ngày càng cao. Do đó ở đô thị luôn cần có hệ thống trường học, du lịch, các trung tâm nghiên cứu khoa học hay các viện bảo tàng để phục vụ kịp thời các nhu cầu của người dân. Và điều này ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước nói chung và sự phát triển đô thị nói riêng.
Vai trò của đô thị trong phát triển kinh tế - xã hội Đô thị đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hóa của xã hội; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa. Đô thị tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng, máy móc cũng như nguồn nhân lực, với quá trình vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra một thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao. Các đô thị cũng là nơi thuận tiện trong phân phối sản phẩm với sự phát triển của mạng lưới giao thông và việc phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn.
Có thể nói đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập quốc dân của đất nước (Trịnh Duy Luân, 2004). Đô thị luôn giữ vai trò tiên phong cho sự phát triển, từ đó dẫn dắt các cộng đồng nông thôn cùng đi lên và phát triển. Sự phát triển đô thị và tác động của nó tới biến động đất nông nghiệp và đời sống người dân Theo Trịnh Duy Luân (2004), trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì việc chú trọng phát triển các vùng kinh tế trọng điểm và các đô thị là vô cùng cần thiết cho phát triển kinh tế ở các nước nói chung và ở nước ta nói riêng. Từ sau những năm 1990 cùng với những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế - xã hội, mạng lưới đô thị quốc gia của nước ta đã được mở rộng và phát triển.
Năm 1990, số lượng đô thị cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 con Luan van 7 số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị. Đến tháng 12 năm 2014, cả nước có 774 đô thị, trong đó có hai đô thị loại đặc biệt, 15 đô thị loại I, 21 đô thị loại II, 42 đô thị loại III, 68 đô thị loại IV và 626 đô thị loại V. Dân số thành thị (gồm các khu vực: nội thành, nội thị và thị trấn) đạt gần 31 triệu người với tỷ lệ đô thị hóa trung bình năm 2014 khoảng 34,5%. Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, trong những năm gần đây tăng trung bình 1% - 1,02%/năm, tương ứng với 1 - 1,2 triệu dân đô thị mỗi năm.
Tổng thu ngân sách khu vực đô thị chiếm hơn 70% tổng thu ngân sách toàn quốc. Đô thị Việt Nam đã và đang chuyển biến tích cực cả về mặt lượng và chất, mạng lưới đô thị quốc gia phát triển ngày một mạnh mẽ hơn. Ngày 7/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 445/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, phấn đấu đến năm 2025 tổng số đô thị của cả nước vào khoảng 1.000 đô thị, trong đó có 17 đô thị từ loại I đến đặc biệt; 21 đô thị loại II; 81 đô thị loại III; 122 đô thị loại IV; còn lại là các đô thị loại V.
Tuy vậy, phát triển đô thị ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế hàng năm của các đô thị ở Việt Nam trung bình từ 12 - 15%. Thu nhập đầu người tăng nhanh, tại các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh đạt khoảng 5. Tăng trưởng không gian đô thị cũng đạt tỷ lệ đáng kể.
Năm 1999, đất đô thị chỉ chiếm 0,2% diện tích đất tự nhiên cả nước. Theo chiến lược phát triển đô thị Việt Nam, diện tích đất đô thị hiện nay tăng từ 105.000 ha lên đến 460.000 ha năm 2020, tỷ lệ đô thị hoá dự kiến tăng từ 34,5% năm 2014 lên đến 46% vào năm 2025. Trong thời gian gần đây việc mở rộng không gian đô thị đã và đang làm giảm diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp. Theo thống kê cho thấy, một số tỉnh, thành phố có sự suy giảm đáng kể về diện tích đất nông nghiệp, ví dụ như vùng Đồng bằng sông Hồng giảm tới 32.000 ha chỉ sau 5 năm (2005-2010).
Cùng với đó là sự gia tăng về quy mô diện tích đất sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp. Sự suy giảm này là do một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã được chuyển sang sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp và mục đích khác như: xây dựng các công trình công nghiệp, công trình thủy lợi, giao thông, nhà ở, các công trình hạ tầng xã hội.