Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa. Chương 2: Quá trình đô thị hóa tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2000 - 2016. Chương 3: Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy quá trình đô thị tỉnh Tiền Giang. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 1.
Cơ sở lí luận về quá trình đô thị hóa 1. Các khái niệm đô thị và đô thị hóa Khái niệm 1: “Đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người, có tỉ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển. Có cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị.
Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng” (Quyết định số 132/HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng; Cổng Thông tin điện tử, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2018). Khái niệm 2: Về mặt quản lí Nhà nước, khái niệm đô thị được đưa ra trong thông tư số 34/2009/TT-BXD: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống, có mật độ dân số cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” (Bộ xây dựng, 2009). Khái niệm 3: “Đô thị là tên gọi chung các thành phố, thị xã, thị trấn và được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ” (Võ Kim Cương, 2017). Khái niệm 4: “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội, 1995).
Như vậy có thể hiểu: “Đô thị là một khu vực tập trung đông dân cư, mật độ dân số cao, lao động hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn, là nơi các hoạt động kinh tế như công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh, có cơ sở hạ tầng phát triển và tương đối đồng bộ, có vai trò là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho cả nước hoặc cho địa phương”. 10 Khái niệm về đô thị hóa: Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế - xã hội, trong đó chứa đựng mối quan hệ đặc biệt giữa thành thị và nông thôn. Đô thị hóa đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt khi có ngành nghiên cứu riêng về đô thị ra đời. Khái niệm 1: “Đô thị hóa là hiện tượng xã hội, liên quan tới những chuyển dịch kinh tế – xã hội – văn hóa – không gian môi trường sâu sắc.
Gắn liền với những tiến bộ khoa học kĩ thuật, tạo đà sự thúc đẩy phân công lao động, sự chuyển đổi nghề nghiệp và hình thành các nghề mới, đồng thời tạo ra nhu cầu dịch cư vào các trung tâm đô thị. Đẩy nhanh sự phát triển kinh tế làm điểm tựa cho các thay đổi trong đời sống xã hội và văn hóa, nâng cao mức sống, biến đổi lối sống và hình thức giao tiếp xã hội. Làm nền cho sự phân bố dân cư hợp lí nhằm đáp ứng những nhu cầu xã hội ngày càng phong phú và đa dạng để tạo thế cân bằng động giữa môi trương xây dựng, môi trường xã hội và môi trường thiên nhiên” (Trương Quang Thao, 2003). Khái niệm 2: “Đô thị hóa là quá trình phát triển đô thị của một quốc gia.
Đô thị hóa bao gồm việc mở rộng các đô thị hiện có và hình thành các đô thị mới. Một khu vực lãnh thổ nào đó được “hóa” thành đô thị khi nó hội đủ năm tiêu chuẩn của đô thị” (Võ Kim Cương, 2017). Khái niệm 3: “Đô thị hóa đã chuyển hóa sự phân bố dân cư phân tán ở các vùng nông thôn sang dạng phân bố dân cư tập trung ở các đô thị, gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, làm cho vai trò của các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đối với nền kinh tế - xã hội thế giới làm cho tỉ lệ dân cư sống trong các đô thị ngày càng tăng lên” (Phạm Thị Xuân Thọ, 2008). Khái niệm 4: “Đô thị hóa là quá trình lịch sử nâng cao vai trò của đô thị trong sự vận động phát triển của xã hội.
Quá trình này bao gồm những thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất. Trước hết là trong phân bố dân cư, trong cơ cấu lao động và nghề nghiệp, trong cơ cấu dân số, trong lối sống, văn hóa, trong tổ chức không gian môi trường sống của cộng đồng. Đô thị hóa là quá trình kinh tế - xã hội, nhân khẩu và địa lí đa dạng dựa trên cơ sở các hình thức phân công lao động xã hội và phân công lao động theo lãnh thổ đã hình thành trong lịch sử” (Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn 11 Viết Thịnh, 2011). Như vậy, có thể hiểu quá trình đô thị hóa: là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị, hình thành và phát triển các đô thị mới.
Là quá trình mở rộng không ngừng không gian đô thị, phổ biến lối sống thành thị trong dân cư và ngày càng hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật đô thị. Xu hướng phát triển hệ thống đô thị ở Việt Nam hiện nay: nói chung ở các quốc gia là cải tạo, mở rộng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội của các đô thị hiện có. Xây dựng, cải tạo, nâng cấp các đô thị lớn, cực lớn để chúng giữ được vai trò là trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa trong một vùng hoặc cả nước, cơ sở để mở rộng giao lưu quốc tế. Nâng cấp các đô thị loại vừa (thị xã), nằm trên các trục giao thông quốc gia và giao thông liên huyện.
Phát triển hệ thống đô thị nhỏ làm chức năng trọng tâm kinh tế - xã hội ở huyện, tạo nên các chuỗi đô thị theo hệ thống các trục giao thông và luôn hướng về tâm của nó là các đô thị lớn đại diện cho vùng (Nguyễn Ngọc Châu, 2017). Chính sách đô thị: Theo TS. Võ Kim Cương (2017), chính sách đô thị là hệ thống các quan điểm, mục tiêu và giải pháp của chính quyền về đô thị nhằm đạt được mục tiêu của mình. Chính sách đô thị bao gồm nhiều mặt, biết vận dụng hợp lí từng chính sách là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển đô thị: Chính sách về đất đai đô thị: Loài người sinh ra trên Trái Đất, từ xa xưa đã gắn liền với đất.
Ngày nay, con người ngày càng đông đúc, đất đai trở nên hạn hẹp và ngày càng có giá trị to lớn đối với con người. Dân cư đô thị có nhu cầu sử dụng đất cư trú, xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công nghiệp và dịch vụ tương đối lớn trong quá trình đô thị hóa. Đất ở đô thị là tất đất tất vàng vì giá trị đất tăng cao do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, đất đai trở thành đối tượng hàng đầu của công tác quản lí đô thị. Chính sách về nhà ở: Chỗ ở là nhu cầu cơ bản, chỉ đứng sau các nhu cầu liên quan nhiều nhất đến sự sống của con người là an toàn, ăn, mặc.
Hiện nay nhà ở là nơi tạo ra chất lượng cuộc sống. Vì vậy nhà ở hiện nay ở các đô thị là vấn đề quan trọng, phải đảm bảo sự an toàn, sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, mặt khác thể hiện đồng bộ trong quy hoạch nhà ở đô thị, vì vậy cần được nghiên cứu và 12 quản lí chặt chẽ. Chính sách về cơ sở hạ tầng và dịch vụ đô thị: Cơ sở hạ tầng còn được gọi là kết cấu hạ tầng, là hệ thống các công trình xây dựng, là nền tảng cho mọi hoạt động của đô thị. Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm hai hệ thống là hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống các công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước thoát nước, xử lý các chất thải và các công trình khác. Hệ thống hạ tầng xã hội bao gồm các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước. Chính sách tài chính đô thị: là chính sách của chính quyền đô thị và các chính sách tài chính Quốc gia về đô thị. Hiện nay ở nước ta có nhiều chính sách tài chính đã được thể chế hóa bằng luật pháp như Luật ngân sách, Luật kiểm toán Nhà nước, Luật kế toán, các luật về thuế, các luật về ngân hàng Nhà nước.
Chính sách tài chính còn được thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp luật về kinh tế - xã hội như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp,… mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội đều liên quan đến thu chi tiền, tức là liên quan đến tài chính và chịu tác động của chính sách tài chính. Xây dựng chính quyền đô thị: tất cả các chính sách đô thị chỉ được thực hiện tốt khi đô thị có bộ máy quản lý Nhà nước mạnh. Chính quyền địa phương nói chung và chính quyền đô thị nói riêng có vai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện các chính sách quốc gia và chính sách đô thị. Nên xây dựng chính quyền địa phương có hiệu quả cao được xem là một giải pháp hàng đầu để quản lý đô thị (Võ Kim Cương, 2017).
Phát triển đô thị thông minh: Hiện nay, trong quá trình đô thị hóa xuất hiện khái niệm đô thị thông minh (thành phố thông minh) như là một hệ thống tổng thể được kết nối từ nhiều hệ thống thành phần với hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể hành xử thông minh như con người, gồm mạng viễn thông số, hệ thống nhúng thông minh, các cảm biến và phần mềm để nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền thành phố, giảm tiêu thụ năng lượng, quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên.