MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII (Ngày 29/5/2008) đã thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội. Theo đó, thành phố Hà Nội mở rộng có diện tích tự nhiên 334.344,7002 km2) và dân số là 6. Sau khi mở rộng, thành phố Hà Nội có 29 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã và 580 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 404 xã, 154 phường, 22 thị trấn.
Định hướng phát triển Hà Nội về phía Nam đã được Chính phủ, lãnh đạo thành phố quyết định từ nhiều năm nay. Điều này lại được khẳng định một lần nữa trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP. Hà Nội (mở rộng) tới năm 2030 vừa được trình Thủ tướng Chính phủ năm 2011. Hàng vạn hecta đất nông nghiệp ở phía Nam của Thành phố Hà Nội đã và đang triển khai các dự án xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp.
Các huyện phía Nam của thành phố Hà Nội phải đối mặt với quá trình đô thị hóa và những tác động của quá trình này tới cộng đồng dân cư địa phương. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh và mạnh mẽ ở Việt Nam nói chung và các thành phố lớn như Hà Nội nói riêng. Hà Nội đã được mở rộng để xứng tầm thủ đô một quốc gia đang trên đà phát triển cao. Nhiều vùng ven đô, ngoại thành cũ nay được nằm trong quy hoạch của các khu vực đô thị, các trung tâm kinh tế, chính trị mới của thủ đô trong tương lai gần.
Trong quá trình đô thị hóa, những nhân tố như sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất đô thị, sự hình thành các khu công nghiệp mới, quá trình nhập cư của dân cư ngoại tỉnh, quá trình chuyển cư dãn dân nội thành, quá trình tự chuyển đổi nghề nghiệp trong các làng xã đô thị hoá, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp… là những yếu tố tác động rất lớn đến đời sống của người dân vùng các huyện phía Nam của thành phố Hà Nội. Dân số cơ học tăng nhanh cộng với đô thị hóa mạnh đã tác động sâu sắc tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các huyện này, nhưng cũng đang nảy sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý dân cư ở huyện các huyện phía Nam của thành phố Hà Nội. Thời gian qua, bộ mặt nông thôn đã có nhiều thay đổi, hệ thống đường làng, ngõ xóm được nâng cấp, đời sống sinh hoạt đô thị dần thay thế thói quen của người nông dân… Tuy nhiên sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng đã đẩy cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường, bệnh viện, trường học vào tình trạng quá tải. Đặc biệt sự du nhập lối sống buông thả của một bộ phận lớp trẻ đã làm cho môi trường sống ở những vùng quê vốn yên bình ngày càng bị đảo lộn.
Tệ nạn xã hội gia tăng, giá trị đạo đức truyền thống trong nhiều gia đình bị lung lay… 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục,…là một trong những thước đo về sự biến đổi của nông thôn dưới tác động của quá trình đô thị hóa. Trong điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu - huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội - khả năng tiếp cận của cộng đồng dân cư địa phương tới các dịch vụ xã hội tuy có nhiều thuận lợi hơn so với các địa phương khác trong cả nước. Tuy nhiên, dịch vụ xã hội đã đem lại cho người dân những tiện ích như thế nào? Những vùng có khả năng cung cấp dịch vị xã hội phân bố ở đâu? Là những câu hỏi đặt ra cho các cấp quản lý địa phương. Chính vì vậy, đề tài đã được lựa chọn nghiên cứu với tiêu đề: “Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới cộng đồng dân cư huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội”.
MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của quá trình dô thị hóa tới cộng đồng dân cư huyện Ứng hóa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng và củng cố cơ sở lí luận về nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới cộng đồng dân cư của huyện Ứng Hòa; - Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay; - Đánh giá khả năng tiếp cận của cộng đồng dân cư địa phương tới hệ thống dịch vụ xã hội của địa phương; - Đề xuất một số giải pháp đối với sự phát triển bền vững huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3. Phạm vi không gian Đề tài được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ huyện Ứng Hòa gồm 29 xã và 1 thị trấn (thị trấn Vân Đình). Ranh giới lãnh thổ nghiên cứu được xác định trên cơ sở địa giới hành chính của huyện.
Phạm vi thời gian Quá trình công nghiêp hóa, đô thị hóa nước ta diễn ra nhanh mạnh trong thời gian từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay. Đặc biệt có sự biến đổi mạnh mẽ ở các vùng ven đô, ngoại thành từ sau năm 2000. Vì vậy đề tài nghiên cứu ảnh hưởng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của quá trình đô thị hóa tới cộng đồng dân cư huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội từ năm 2000 đến nay. Phạm vi khoa học Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các khu vực nằm ở ngoại vi các thành phố lớn như Hà Nội có ảnh hưởng tới rất nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, môi trường.
Chính vì vậy, trong khuôn khổ luận văn cao học, đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề chính như sau: - Phân tích hiện trạng đô thị hóa tại huyện Ứng Hòa giai đoạn 2000 - 2010; - Đánh giá khả năng tiếp cận của cộng đồng dân cư địa phương đối với các dịch vụ xã hội. Do tính phức tạp của quá trình đánh giá khả năng tiếp cận, đề tài dừng lại ở việc đánh giá khả năng tiếp cận của cư dân địa phương tới hệ thống giáo dục và y tế huyện Ứng Hòa. QUAN ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4. Quan điểm nghiên cứu 4.
Quan điểm hệ thống Có nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất. Các nhà cảnh quan học quan niệm hệ thống như một địa hệ - hệ thống của các yếu tố tự nhiên, là “tổng thể các thành phần nằm trong sự tác động tương hỗ” (L. Bertalanf), là “tập hợp bất kỳ các thành phần tác động tương hỗ” (A. Armand, 1971) và có tính thứ bậc.
Các nhà kinh tế sinh thái quan niệm hệ thống như một hệ thống xã hội - môi trường (socio-environmental system) - những hệ thống phức tạp, tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và có thể thực hiện những hoạt động không thể dự báo trước (Clayton và Radcliffe, 1996), có khả năng tự điều chỉnh và có thứ bậc, bao gồm nhiều hệ thống nhỏ khác nhau (Jennings và Reganold, 1991; Norton và Ulanowicz, 1992; Warren và Cheney, 1993; Muster et al, 1994). Các nhà quy hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ quan niệm hệ thống là một thể thống nhất và khách quan của mọi chủ thể tồn tại và phát triển trên trái đất. Do đó, mọi hoạt động của hệ thống phải luôn thể hiện ở trạng thái cân bằng và phải được điều chỉnh kịp thời khi chịu tác động, đó là tiêu chuẩn của phát triển bền vững. Vì vậy, trong tổ chức lãnh thổ phải luôn ưu tiên vấn đề công bằng giữa các vùng, các khu vực bởi vì hệ thống đó chỉ cân bằng và tự điều chỉnh trong một ngưỡng cho phép, nếu vượt quá ngưỡng đó, hệ thống sẽ tan vỡ.
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tính hệ thống của đô thị được thể hiện ở chỗ: đô thị Hà Nội là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn (cả về tự nhiên và kinh tế - xã hội, nhân văn). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan điểm tổng hợp Quan điểm tổng hợp xuất phát từ quan điểm hệ thống, nhấn mạnh mối quan hệ thống nhất và biện chứng giữa các yếu tố hệ thống trong một tổng thể hoàn chỉnh mà mỗi yếu tố (hệ thống này) là một mắt xích trong một mạng lưới liên hệ với các yếu tố và hệ thống khác. Do đó, quan điểm tổng hợp đòi hỏi cần phải hiểu rõ, hiểu đúng các yếu tố cấu thành hệ thống và mối liên hệ giữa chúng trước khi quyết định tác động vào một yếu tố.
Bởi lẽ chỉ cần một tác động nhỏ vào một yếu tố thôi thì cũng có thể làm biến đổi toàn bộ hệ thống, phá vỡ trạng thái cân bằng và ổn định của hệ thống, dẫn đến những hậu quả khó lường. Quan điểm phát triển bền vững Thuật ngữ phát triển bền vững (sustainable development) xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX và đề cập một cách hệ thống về môi trường và phát triển quốc tế qua cuốn Chiến lược bảo tồn thế giới (1980), được phổ biến qua báo cáo Brundland: Tương lai chung của chúng ta (1987), chi tiết hơn trong cuốn: Chăm lo cho Trái đất (1991) và Chương trình Nghị sự 21 (1992). Cho đến nay, phát triển bền vững trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong bất kỳ một chiến lược, một định hướng phát triển nào từ cấp quốc tế, quốc gia đến địa phương. Hai khái niệm về phát triển bền vững ngày nay được sử dụng phổ biến nhất: - Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ (IUCN, Chăm lo cho trái đất, 1991).
- Phát triển bền vững là sự nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại trong khuôn khổ sức chứa của các hệ sinh thái trợ giúp (IUCN, Chăm lo cho trái đất, 1991). Ba mục tiêu mà phát triển bền vững hướng tới là phồn vinh về kinh tế, ổn định về xã hội, duy trì chức năng sinh thái và đảm bảo chất lượng môi trường.