Chương 1: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu địa lý học phục vụ định hƣớng phát triển bền vững tại khu vực đô thị hóa. - Chương 2: Phân tích tính đặc thù về tự nhiên - văn hóa của các cảnh quan khu vực Sơn Tây - Ba Vì. - Chương 3: Đánh giá cảnh quan và định hƣớng không gian phục vụ phát triển bền vững khu vực Sơn Tây - Ba Vì. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ HỌC PHỤC VỤ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ HÓA 1.
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu định hƣớng sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển bền vững tại các vùng lãnh thổ đƣợc xác định là nhiệm vụ thuộc lĩnh vực địa lý ứng dụng. Cho đến nay, có nhiều công trình công bố cả trong và ngoài nƣớc theo hƣớng này. Các nội dung nghiên cứu tập trung vào định hƣớng phát triển bền vững cảnh quan dựa trên cơ sở tiếp cận địa lý học, nghiên cứu cảnh quan đô thị, cảnh quan văn hóa trong mối quan hệ với quy hoạch sử dụng đất và quản lý đất đai, tiếp cận cảnh quan trong sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trƣờng,. Các công trình ngoài nƣớc Liên quan tới hƣớng nghiên cứu của đề tài luận án, có thể chia các công trình khoa học đã công bố ở ngoài nƣớc thành các nhóm sau đây: a) Các công trình nghiên cứu định hướng phát triển bền vững cảnh quan theo tiếp cận địa lý học Liên quan tới hướng nghiên cứu phát triển bền vững cảnh quan, hiện nay có một số công trình tiêu biểu.
Đối với vấn đề quy hoạch cảnh quan định hƣớng phát triển bền vững có sự tham gia của cộng đồng, Valencia và cộng sự (2010) nhận định, các vấn đề môi trƣờng và kinh tế xã hội đã trở thành những nhóm chủ đề chính đƣợc mô tả theo các đơn vị cảnh quan, là cơ sở cho quá trình hoàn thành mục tiêu phát triển bền vững khu vực nông thôn. Mục tiêu phát triển bền vững cảnh quan cũng coi quy hoạch là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi đánh giá tích hợp để mô tả đặc điểm cảnh quan [148]. Rosa và Martinico (2013) liệt kê bốn thách thức đối với phát triển bền vững cảnh quan, bao gồm: (i) biến đổi cảnh quan do quy hoạch phát triển; (ii) bành trƣớng đô thị; (iii) xói mòn đất; (iv) mất đất nông nghiệp [134]. Gần đây nhất, Hermann và cộng sự (2014) cũng khẳng định điều này thông qua nhận định các chức năng cảnh quan văn hóa trong quy hoạch cảnh quan bền vững [121].
5 z Trong nhiều hƣớng tiếp cận nghiên cứu phát triển bền vững cảnh quan, tiếp cận địa lý đƣợc tổng kết là một hướng tiếp cận hiệu quả dựa trên nền tảng các đơn vị địa tổng thể (geocomplexes) và định hướng tổ chức không gian. Một công trình nghiên cứu các cảnh quan đang đô thị hóa tại khu vực Bloomington, Indiana, Hoa Kỳ đƣợc Munroe và cộng sự thực hiện vào năm 2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân mảnh cảnh quan (landscape defragmentation) gây nhiều tác động bất lợi tới chức năng và khả năng cung cấp dịch vụ cảnh quan. Nghiên cứu này đồng thời cũng chỉ ra mối quan hệ có tính chất thống kê giữa phân mảnh cảnh quan với những biến đổi về không gian, tự nhiên, kinh tế xã hội và sử dụng đất [128].
Một nghiên cứu tƣơng tự của Termorshuizen và Opdam (2009) cho thấy, dịch vụ cảnh quan nên được xem là đối tượng nghiên cứu của sinh thái cảnh quan về phát triển bền vững. Theo các tác giả, nghiên cứu sinh thái cảnh quan nên tập trung hơn nữa vào 2 vấn đề: giá trị cảnh quan với lợi ích ra quyết định phát triển cấp địa phƣơng; dịch vụ cảnh quan có thể tích hợp vào phát triển cảnh quan đa chức năng [144]. Phƣơng pháp đánh giá quy hoạch sử dụng đất và xác định khoảng cách giữa mục tiêu của quy hoạch và kết quả thực tiễn tại Lào đƣợc Bourgoin (2012) cho thấy: dựa trên phân tích thực hiện quy hoạch đất đai trong quá khứ và hiện tại, tác giả đã nêu ra định hƣớng sử dụng cảnh quan và phƣơng thức cƣ dân địa phƣơng sử dụng đất đai [110]. Gần đây nhất, liên quan đến vấn đề quy hoạch cảnh quan nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của một khu vực cụ thể, nghiên cứu của Tassinari và cộng sự (2013) đã tập trung làm r những vấn đề liên quan đến quy hoạch không gian phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lƣợng hệ thống định cƣ khu vực nông thôn.
Nghiên cứu cũng đề cập đến các chính sách quy hoạch đặc thù đối với vùng nông thôn bao gồm quy hoạch cảnh quan, quy hoạch nông nghiệp, quy hoạch kinh tế và quy hoạch sử dụng đất [143]. b) Các công trình nghiên cứu cảnh quan đang đô thị hóa (urbanizing landscape) và cảnh quan đô thị (urban landscape) Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ tại các quốc gia phát triển và đang phát triển trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh lợi ích đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và khu vực, đô thị hóa cũng làm phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực cần giải quyết. Đó là lý do vì sao mục tiêu phát triển 6 z bền vững tại khu vực đô thị hóa đƣợc nhiều học giả quốc tế quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây.
Các cảnh quan đang đô thị hóa và cảnh quan đã đô thị hóa (còn gọi là cảnh quan đô thị) được xác định là đối tượng của các nghiên cứu cảnh quan phục vụ kiến trúc đô thị - một vấn đề đã và đang trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, định hƣớng tiếp cận nghiên cứu dựa vào các đối tƣợng này phụ thuộc rất nhiều vào sự khác biệt về mục tiêu phát triển và đặc trƣng đô thị hóa tại quốc gia hay khu vực thực hiện. Chẳng hạn, nghiên cứu của Pirnat (2000) về quy hoạch bảo tồn và quản lý rừng tại khu vực ngoại ô Ljubljana, Slovenia đã chứng minh sự suy giảm tính kết nối tự nhiên của cảnh quan khi xây dựng đƣờng cao tốc tại vùng chuyển tiếp giữa hành lang xanh trong đô thị với các khu rừng lân cận. Dựa trên các kết quả phân tích, giải pháp quy hoạch cảnh quan đƣợc đề xuất ở đây là đảm bảo mục tiêu bảo tồn dựa trên thiết kế hành lang kết nối mới dọc theo công trình, đảm bảo phát triển bền vững cho khu vực [131].
Mối quan hệ giữa đô thị hóa và biến đổi cảnh quan tại châu Âu đƣợc nghiên cứu bởi Antrop (2004), cho thấy mô hình phát triển đô thị luôn thay đổi, phụ thuộc vào vị trí địa lý và biến đổi theo thời gian [105]. Một nghiên cứu khác của Kim và Ellis (2009) thực hiện tại khu vực biên giới thuộc vùng Woodlands và Bắc Houston, Hoa Kỳ đã chỉ ra cách thức xác định ảnh hưởng của cơ chế phát triển vùng tới cấu trúc cảnh quan. Mối quan hệ này cùng với sự biến đổi theo thời gian là nguyên nhân khiến mức độ đồng nhất về cảnh quan tại địa phƣơng có xu hƣớng giảm dần. Kết quả phân tích trong 30 năm cho thấy khu vực Woodlands (khu vực bảo tồn) có sự biến đổi và phân mảnh thấp hơn so với khu vực Bắc Houston (khu vực nông thôn) [124].
Qingjuan và cộng sự (2011) thực hiện một công trình nghiên cứu tại Thành Đô, Trung Quốc, trong đó tập trung làm r quá trình hội nhập và phát triển đô thị - nông thôn, động thái cân bằng quá trình phát triển đô thị - nông thôn trên các phƣơng diện phát triển kinh tế (du lịch nông thôn, đô thị hóa và chuyển giao công nghệ, hoạt động sản xuất nông nghiệp) [135]. Một nghiên cứu tổng quan của Ngân hàng Thế giới (2011) về đặc điểm cảnh quan đô thị tại khu vực Nam Sudan đã đề ra bốn nhiệm vụ cần thực hiện nhằm đạt đƣợc mục tiêu đáp ứng nhu cầu thông tin về cảnh quan đô thị, bao gồm: (i) thống kê các cảnh quan đô thị ngoài thực địa; (ii) mô phỏng xu hƣớng phát triển của đô thị; (iii) xác 7 z định chính sách và tài chính của địa phƣơng; và (iv) đề xuất chính sách phát triển cho địa phƣơng [150]. Bên cạnh đó, tác động của quá trình đô thị hóa đến đặc điểm, cấu trúc và chức năng cảnh quan cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Lee và Oh (2012) đã xây dựng hệ thống cảnh quan tự nhiên bền vững cho đô thị Seoul dựa trên các phân tích thực nghiệm.
Nhờ sự hỗ trợ của Hệ thống Quản lý Sinh thái Cảnh quan dựa trên GIS (LEMS), nghiên cứu đã thực hiện đánh giá định lƣợng và tổng hợp cho mục tiêu đề xuất giải pháp phát triển không gian đô thị [125]. Pinto và Kristensen (2013) đã xây dựng những cơ sở lý luận tích hợp các quan điểm xã hội và sinh thái của nông thôn dựa trên đặc điểm cảnh quan. Đây là một phƣơng thức xác định những vấn đề kinh tế xã hội và văn hóa trong cảnh quan. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cho phép đƣa ra một số nhận định về ảnh hƣởng của quá trình đô thị hóa nhanh là nguyên nhân gây áp lực đối với cảnh quan tự nhiên, ảnh hưởng xấu tới môi trường, và tác động xấu tới sự phát triển kinh tế của vùng ngoại ô [133].
Tác động của quá trình đô thị hóa đến sự biến đổi giá trị dịch vụ hệ sinh thái và biến đổi cảnh quan cũng đƣợc Su và cộng sự (2012) nghiên cứu tại khu vực đồng bằng Hang-Jia-Hu (Trung Quốc) là nơi tập trung những khu vực có mức độ đô thị hóa cao. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình gia tăng dân số nhanh, phát triển kinh tế và bành trƣớng đô thị là nguyên nhân làm suy giảm giá trị dịch vụ sinh thái trong giai đoạn 1994 - 2003 tại khu vực này [142]. Trên cơ sở phân tích quá trình đô thị hóa tại tỉnh Hắc Long Giang (Trung Quốc), Liu và cộng sự (2014) đã chỉ ra rằng, quá trình tập hợp dân cƣ sống rải rác thành khu vực tập trung đã tạo điều kiện có thêm diện tích đất phát triển nông nghiệp trở thành giải pháp hàng đầu trong giải quyết mâu thuẫn của đô thị hóa và vấn đề nông nghiệp - nông thôn. Tuy nhiên, đô thị hóa cũng ảnh hƣởng tới dân cƣ và kiến trúc đô thị, gây tổn hại tới môi trƣờng mà những lợi ích tăng thêm từ sinh kế không thể bù đắp [126].
Cilliers và cộng sự (2014) cũng đã đƣa ra quan điểm phát triển cảnh quan đô thị bền vững tại Nam Phi dựa vào cách tiếp cận liên ngành.