Chương 1: Tổng quan về BĐKH và tác động của BĐKH đến hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An - Chương 2: Mô phỏng và đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến nhu cầu tiêu của hệ thống tigu vùng Tây Nam Cứu An. ~ Chương 3: Đề xuất giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo = Phụ lục CHUONG I - TONG QUAN VE BDKH VA TÁC DONG CUA BDKH DEN HETHONG TIEU VUNG TAY NAM CUU AN Biến đội khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, (huỷ quyển, sinh quyển, thạch quyén hiện tại và ong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tinh bằng thập kỹ hay bàng triệu năm. Sự bi đồi có th là thay đối thi tết bình quân hay thay dBi sự phân bổ các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biển đổi khí hậu có thé giới hạn trong một vàng nhất định hay có thể xut hiện trên toàn Dia Cần.
Biển đổi khí hậu trước hết last nói lên toàn cẳu và mực nước biển dâng, là một rong những thách thức lớn nhất đồi với nhân loại ong thể ky 21. Thiên ti và các hign tượng khí hậu cực doan khác đang gia tăng ở hu hết các nơi trên th giới, nhiệt độ và mục nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng có va đang là mỗi lo ngại của các quốc gia trên thé giới. Biến đổi khí hậu dang điỄn ra trên quy mô toàn u, khu vực và ở Việt Nam do các hoạt động của con người làm phát thải quá mức khí nhà kính vào bầu khí quyển. Biển đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng dé sản xuất đời.
ng và môi trường trên phạm vi toàn thé giới. Vấn dé biến đổi khí hậu đã, dang và sẽ làm thay đổi toàn dig sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như lương thực, nước, năng lượng, các vấn đề về an toàn xã hội, văn hóa ngoại giao và thương mại. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thé giới: đến 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2 - 4%, giá sẽ tăng 13 - 4%, tỷ lệ dân số bị ảnh hưởng của nạn đói chiếm 36-50%; mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, anh hướng đến nông nghiệp, và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống KT-XH trong tương lai. Các công trình hạ ting được thiết kế theo các tiêu chuẳn hiện tại sẽ “khó an toàn và cung cắp đầy đủ các địch vụ trong tương lai.
“Theo đánh giá của Ngân hàng Thể giới (2001), Việt Nam là một trong năm nướ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BDKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hỗng và sông Mê Công bị ngập chìm nặng nhất. Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực t ép, tôn thất đối với GDP. khoảng 10%, Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị nh hưởng trực tiếp và tốn thắt đối với GDP lên tới 25%, Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trong và la một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đi gdm nghèo, cho vige thực hiện sắc mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển ben vũng của đất nước, Các lĩnh vực, ia phương dé bị tổn thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất của biển đổi khí nguyên nước, nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khoẻ; các ving đồng bằng và dai ven biển Ở Việt Nam xu thé én đổi nhiệt độ và lượng mưa là khác nhau so với các, ving trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5° C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ. Nhiệt độ mùa Đông thi tăng nhanh hơn so với mùa Hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liễn tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển và hai đảo.
Lượng mưa ngày một ting "Nhận thức rõ ảnh hưởng của bị đổi k tu, Việt Nam coi ứng phó với biển di khí hậu à vấn đề cổ ý nghĩa sống còn. Nhiều bộ, ngành. địa phương đã triển khai các chương trình, dự án nghiên cứu tỉnh hình diễn ấn và tác động của BDKH đến bi nguyên, môi trường, sự phát triển KT-XH, đề xuất và bước đầu thực hiện các giải pháp ứng phó. Kịch bản biển đổi khí hậu và nước bién ding là cần thiết làm cơ sở để đảnh giá mức độ và tác động của biển đổi khí hậu đến các lĩnh vực các ngành và các địa phương từ đó dé ra các giải pháp ứng phó hiệu quả với biển đổi khí hậu.
Các phương pháp và nguồn số liệu dé xây dựng kịch bản biển đổi khí hậu nước bi dâng cho Việt Nam được kế thửa từ các nghiên cứu trước đây và được cập nhật đến năm 2010. Thời kỳ 1980- 1999 được chọn là thời kỳ cơ sở để so sánh sự thay đổi của khí hậu và nước biển dang. Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển ding cho Việt Nam do Bộ Tài Nguyên và Môi trường công bố, có nhiễu kịch bản nhưng kịch bản B2 được khuyến nghị sử dụng trong thời điểm hiện nay. Nội dung của kịch bản B2 đối với khu vực Hung Yên so với giai đoạn 1980- 1999 như sau: a) Nhiệt độ (B2): Ni độ trung bình năm có thể tăng lên so với trong bình thời kỳ 1980- 1999 như sau: Giai đoạn 2030 khoảng 0,5°C; giai đoạn 2030 tử 1,2-1,4°C.
b) VỀ lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm tăng 1.4% giai đoạn 2030 va 3,8% giai đoạn năm 2030. Sự thay đãi của nhiệt độ Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0, trên phạm vi cả nước. Nhiệt độ thắng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc. trưng cho mùa hé) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước, Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất n ting nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển và hai đảo.
Tinh trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 12°C trong vòng 50 năm. Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3-0,5°C trong von 50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5-0,6°C trong vang 50 năm năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đông bing Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hon, chỉ vào khoảng 0,3°C trong vòng 50 năm (Băng 1-1). Xu thé chung của nhiệt độ là tăng trên hầu hết các khu vực, tuy nhiên, có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như Thừa Thiên - Huế, Quảng Ngãi, Tién Giang có xu hướng giảm của nhiệt độ, ‘Theo kịch ban phát thải thấp: Đến cuối thể ky 21, nhiệt độ trung bình năm ting tir 1,6 đến 2,2°C trên phần lớn diện tích phía Bắc lãnh thổ và dưới 1,6°C ở đại bộ phận diện tích phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào).
“Theo kịch bản phát thải trung bình: Dén cuối thé ky 21, nhiệt độ trừng bình tăng từ 2 đến 3°C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Ha Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác. Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 đến 3,0°C, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng tử 2,0 đến 3. Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35°C tăng từ 15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước, “Theo kịch ban phát thải cao: Đến et i thể ky 21, nhiệt độ trung bình năm có mức tăng phổ biến từ, đến trên 3,7°C trên hầu hết di tích nước ta, 1L.Sự thay đÃI của lượng mica Lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam nước ta. Lượng mưa ma khô (thing XIV) tăng lên chất ít hoặc thay đồi không đăng kế ở các vũng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam.
Lượng mưa mùa 7 mưa (hing V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên da phần điện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng Š đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam. Xu thé diễn biển của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa mia mưa, tổng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở sắc vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mia mưa: và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiễu nơi đến 20% trong 50 năm qua (Băng 1-1) Bang 1-1. Mức tăng nhiệt độ và mite thay đổi lượng mica trong 50 năm qua ở các vàng khí hậu của Việt Nam Vũng khíhận Nhiệt độ CC) Tượng mưa (9) Thing | Tháng VII | Năm.
ÿ [ Thoiky | Năm Tay Bắc Bộ 14 05 05 6 B Đông Bắc Bộ 15 03 06 0 2 7 ‘Dong bằng Bắc Bộ | 14 05 %6 0 3B [ Bắc Trung Bộ 13 05 05 + 5 3 Nam TrmngBộ | T06 05 03 | 29 20 [20 “Tây Nguyên 09 04 %6 | 19 9 " Nam Bội 08 04 06 |} 27 6 9 (Nguon: IMHEN/2010) Lượng mưa lớn nhất năm thời đoạn ngắn (1, 3, 5 ngày) tăng lên ở hau hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gin diy, Số ngày mưa lớn cũng có xu thể tang lên tương ứng.0 eee iarent — | seo = YO 1958 ti bì 1988 we 1976 8 8 1998 1922 1998 200 EI 288 Nam Hinh 1-1: Xu thé biến đổi egg maa Š ngày lớn nhất năm tại tram Láng (Nguồn: Viện QHTL, 2010) Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuỗi thể ky 21, lượng mưa năm tăng phổ biến khoảng trên 6%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tng t hơn, chi vào khoảng dưới 2%, ‘Theo kịch bản phát thải rung bình; Đến cuối thé ky 21, lượng mưa năm tăng trên khắp lãnh thổ. Mức tăng phổ biển từ 2 đến 7%. riệng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng it hơn, dưới 3%. Xu thé chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mia mưa tăng.
Lượng mưa ngày lớn nhất tăng so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Bắc Bộ, Bắc ‘Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ.