phần Mở đầu (10 trang),Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (13 trang), Phụ lục (28 trang),luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (40 trang). Chƣơng 2: Không gian làng Kim Âu truyền thống và quá trình đô thị hóa diễn ra tại làng (26 trang). Chƣơng 3:Không gian làng trong sự tƣơng tác với Khu đô thị mới (44 trang). Chƣơng 4: Những vấn đề đặt ra trong quá trình tƣơng tác không gian làng ven đô và khu đô thị mới (37 trang).
luan an 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tổng quan này đƣợc chia làm các phần: Tổng quan các nghiên cứu vềvăn hóa làng, Tổng quan về không gian văn hóa làng ven đô tiếp cận dƣới góc độ cả nông thôn và đô thị, và một phần nhỏ tổng quan về những nghiên cứu về khu đô thị mới. Nghiên cứu cơ bảnvề văn hóa làng Làng Việt là đối tƣợng nghiên cứu hấp dẫn của giới học giả từ nhiều khía cạnh khác nhau. Trƣớc những năm 1945, học giả ngƣời Pháp là Pierre Gourou đã miêu tả làng Việt dƣới chế độ thực dân thông qua cuốn “Ngƣời nông dân ở Châu thổ Bắc Kì”.Có thể nói đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về văn hóa làng.
Sách chia làm 3 phần: Môi trƣờng vật chất, Cƣ dân nông thôn, Phƣơng tiện sống của nông dân Bắc Kỳ. Mỗi phần có nhiều chƣơng phân tích cặn kẽ về đất và ngƣời Bắc Bộ nhƣ địa hình, khí hậu châu thổ, lịch sử di dân và sự vận động của dân số, nông nghiệp, công nghiệp, làng xã. Mặc dù đƣợc đề cập từ rất sớm, nhƣng đến nay, một số vấn đề của làng xã đƣợc phản ánh trong cuốn sách vẫn còn nguyên tính thời sự. Nhiều nhận định của ông đã là từ khóa, là tài liệu tham chiếu cho các nghiên cứu về làng sau này.
Ông nhận thấy rằng những ngƣời nông dân vùng châu thổ Bắc kì này tuy sống trong nghèo khổ nhƣng không hề tuyệt vọng mà có tinh thần rất lạc quan. Những ngƣời nông dân nghèo túng đã biết dệt quanh mình bằng một môi trƣờng địa lý nhân văn với các mối quan hệ, mạng lƣới chằng chịt của gia đình, họ hàng, làng xóm. Trái ngƣợc với những nhận định của phƣơng Tây về một nền văn hóa lạc hậu trì trệ nơi đây, G. Gourous đề cao những giá trị văn hóa truyền thống cổ xƣa hài hòa giữa con ngƣời và thiên nhiên, tạo nên một môi trƣờng hết sức nhân văn.
Mặc dù vậy, ông vẫn nhận ra sự biến đổi của luan an 12 làng Việt trong bối cảnh mới. Những tác động, can thiệp của văn minh phƣơng Tây, sự cải tạo nông thôn một cách vụng về đã dần làm phôi pha nét truyền thống trƣớc đó. Ông cũng cho rằng nếu có tinh thần yêu nƣớc thì phải dành tất cả tâm huyết vào giữ gìn sự hài hòa giữa thiên nhiên và con ngƣời vì đó là vấn đề quan trọng chi phối các vấn đề khác nhƣ kinh tế, chính trị [65]. Khi có độ lùi về thời gian, trải qua những biến đổi của làng xã trong những thập kỉ gần đây, nhất là trong phong trào xây dựng nông thôn mới, chúng ta mới thấy những nhận định của Gourou thật là sâu sắc.
Những yếu tố gọi là “truyền thống” qua mỗi thời kì dƣờng nhƣ mờ đi, và muốn gọi đƣợc tên nó, chúng ta phải “hồi cố”, phải định ra các mốc thời gian của quá khứ. Dƣờng nhƣ đối với mỗi nhà nghiên cứu về làng, trong mỗi thời điểm đều nhận thấy rằng làng có sự thay đổi so với trƣớc. Và vì thế cái gọi là “truyền thống” có vẻ nhƣ càng ngày càng khó nắm bắt hơn vì cái hiện đại của ngày hôm nay cũng có thể trở thành cái “truyền thống” của ngày mai. Cuộc sống con ngƣời luôn biến đổi theo thời gian và làng cũng vậy bởi con ngƣời là chủ thể của làng.
Cũng vào thập niên 30 của thế kỉ trƣớc, các nghiên cứu về làng cũng thu hút các trí thức Tây học bản địa nhƣ Phạm Quỳnh với Người nông dân Bắc Kì qua tiếng nói bình dân (1929), của Nguyễn Văn Vĩnh với loạt bài trên báo An Nam mới nhƣ “Làng với ngƣời An Nam”; “Chơi họ-một hình thức kinh doanh tài chính của ngƣời Việt”; “Ruộng đất, cơ sở tài sản của ngƣời An Nam, Tình hình lúa gạo” [41]… Đây là những bài tiểu luận tiếp cận dƣới góc dân tộc chí sâu sắc. Năm 1943, Nguyễn Văn Huyên công bố công trình đƣợc thoát thai từ luận án tiến sĩ mà ông bảo vệ ở Pháp là Hát đối của nam nữ thanh niên Việt Nam[41]. Đây là một tài liệu tham khảo quý giá đƣợc giới khoahọc phƣơng Tây đánh giá cao khi muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam. Bên cạnh những giá trị văn hóa tinh thần tốt đẹp, ông cũng nhìn thẳng vào thực trạng dân sinh, dân trí hiện thời để đƣa ra nhận định rằng con ngƣời làng luan an 13 xã, tự nó, là một thách thức không nên giản đơn hóa một cách tham chiếu.
Sau chiến tranh, từ những năm 80 của thế kỉ trƣớc trở đi, có nhiều nhà khoa học nƣớc ngoài chọn làng làm đối tƣợng nghiên cứu và đã có những thành công nhất định. Theo nhà nhân học John Kleinen, cũng là tác giả của cuốn Làng Việt- đối diện quá khứ hồi sinh tương lai (1999), thì các nghiên cứu làng Việt giai đoạn này khắc phục đƣợc sự chênh lệch học thuật trƣớc đó khi điều kiện thực địa điền dã và cách thức thu thập thông tin không còn bị ảnh hƣởng bới chiến tranh. Các nghiên cứu làng Việt nhanh chóng nổi lên trên diễn đàn học thuật quốc tế với Lƣơng Văn Hy (vùng Sơn Dƣơng, Vĩnh Phúc), Nguyễn Tùng và Nell Krowosky (làng Mông Phụ, Hà Tây cũ), Shaun KingslayMalarney (làng Thịnh Liệt, Hà Nội), John Klenen (làng Tơ, Hà Tây cũ), Terry Rambo (làng Nguyên Xá, Thái Bình) [41]. Các nghiên cứu về làng Việt của giới tri thức Việt Nam cũng nở rộ từ sau năm 1986.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về làng xã thời kì này có thể kể đến nhƣ Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII, XIX, Nông thôn và đô thị Việt Nam: Lịch sử, thực trạng và xu hướng biến đổi của Nguyễn Quang Ngọc, Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ của Nguyễn Hải Kế, Tìm hiểu làng Việt do Diệp Đình Hoan chủ biên, Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội; Từ làng đến nước một cách tiếp cận lịch sử của Phan Đại Doãn [41]v.v… Cùng với những công trình tổng hợp thì có một số công trình khảo tả cụ thể về từng làng, đem đến cái nhìn đa dạng về làng xã nhƣ Làng Chương Dương qua di sản Hán Nôm của Chu Huy, Cung Khắc Lƣợc, Nguyễn Trọng Hải, Hành trình về làng Việt cổ của Bùi Xuân Đính chủ biên [41]. Theo thống kê của Tống Văn Lợi và Phan Đức Anh năm 2006 với 449 công trình nghiên cứu về làng xã thì có đến 416/449 là của các học giả Việt Nam. “Các vấn đề đƣợc quan tâm rất đa dạng trên các lĩnh vực nhƣ ruộng đất (78/449 công trình, chiếm 17,3%), văn hóa luan an 14 làng xã (54/499, chiếm 12%), quản lí làng xã (32/449 chiếm 7,1%)… cho thấy sức hấp dẫn của đề tài [40, tr. Nghiên cứu làng Việt trong xu hƣớng biến đổi thể hiện trong các chƣơng trình trọng điểm nhƣ Làng xã ở đồng bằng sông Hồng (1996-1999) do Viện Viễn đông bác cổ tại Hà Nội phối hợp với Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), đề tài cấp bộ Văn hóa nông thôn trong phát triển (Viện Văn hóa thông tin- Bộ Văn hóa thông tin, 2000) v.v… Những nghiên cứu này xem xét làng Việt trong các chiều hƣớng biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa ở mức độ vĩ mô từ đó đặt ra các vấn đề chính sách, chiến lƣợc phát triển cho từng vùng Tuy nhiên mỗi vùng quê, mỗi làng xã lại có những đặc thù riêng, vì vậy đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn, không chỉ là khảo tả mà đã đi vào phân tích cụ thể, lý giải dƣới góc độ lý thuyết thuyết phục hơn.
Đó là những công trình nhƣ của Nguyễn Thị Phƣơng Châm trong Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (2009) nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa ở các làng Bắc Ninh [5], Lâm Minh Châu trong Đổi mới, kinh tế thị trường và hiện đại hóa (2017) nghiên cứu về một làng ở Thái Bình [7], Nguyễn Công Thảo với Tìm phố trong làng, tâm tư của người cao tuổi (2020) nghiên cứu một làng ở Đông Anh, Hà Nội [79]…Đây là những công trình nghiên cứu theo hƣớng khoa học mới, đặt trong bối cảnh tranh luận chung của học thuật thế giới, có tính vấn đề hóa cao để từ đó bàn luận về làng Việt một cách sâu sắc, đa dạng. Sẽ còn có rất nhiều công trình nghiên cứu làng Việt khác nhƣng trên đây là những công trình có giá trị về nghiên cứu về làng Việt Bắc Bộ mà NCS cho là có giá trị thực tiễn và lý luận. Để tìm hiểu về làng và không gian làng ven đô thì việc tìm hiểu làng Việt nói chung là một bƣớc đệm cần thiết.Nghiên cứu về biến đổi không gian làng ven đô Khu vực ven đô là một nơi hội tụ đầy đủ những đặc điểm của bối cảnh giao động giữa nông thôn và thành thị, là nơi chứng kiến sâu đậm nhất của luan an 15 các quá trình đô thị hóa, công nghiêp hóa, hiện đại hóa cũng nhƣ là toàn cầu hóa. Do vậy, đây là một không gian vô cùng sôi động thu hút nhiều sự quan tâm các học giả thế giới cũng nhƣ trong nƣớc.
Đầu tiên phải kể đến bài viết của Micheal Leaf (2009) về “Những biên giới đô thị mới: Quá trình đô thị hóa vùng ven đô và (tái) lãnh thổ vùng Đông Nam Á”. Đối với khu vực ven đô ở Đông Nam Á, theo ông, đó là một vùng có cảnh quan năng động, hỗn độn, chắp vá và liên tục biến đổi. Tính quá độ này tạo nên những đặc điểm của quá trình đô thị hóa ở khu vực ven đô, đó là sự chuyển tiếp giữa nông thôn và thành phố, giữa nội thành và ngoại thành và là một khu vực có sự biến đổi năng động và không ngừng. Quá trình này ở mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng lại mang những nét đặc thù riêng chứ không phải là một quá trình đồng nhất.
Ở vùng này, còn có thể coi là địa giới về mặt không gian lãnh thổ theo ít nhất 3 nghĩa.