Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số 62310301) với đề tài "Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình Đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Như Thúy thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Trịnh Duy Luân và PGS. Nguyễn Thị Thu Hà, bảo vệ năm 2019.

Về tính cấp thiết, Tây Nguyên là địa bàn chiến lược gồm 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), diện tích 54.641 km², dân số khoảng 5,5 triệu người với hơn năm mươi dân tộc cùng sinh sống. Trong khu vực Tây Nguyên, Lâm Đồng là địa phương có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất (37,77%, so với Kon Tum 33,51%, Gia Lai 28,56%, Đắk Lắk 23,98% và Đắk Nông 14,74%). Theo Quyết định số 704/QĐ-TTg ngày 12 tháng 5 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, khu vực này được định hướng trở thành vùng đô thị hiện đại. Tộc người Kơho là cư dân bản địa chiếm số lượng đông nhất tại Lâm Đồng (khoảng 112.926 người theo số liệu tổng điều tra năm 1999). Quá trình đô thị hóa mang lại sự chuyển dịch về kinh tế, hạ tầng, thông tin truyền thông nhưng đồng thời đặt ra thách thức đối với việc bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của các buôn làng (bon).

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ các công trình nghiên cứu trước đây về người Kơho chủ yếu tiếp cận dưới góc độ dân tộc học, nhân học, khảo cứu lịch sử, kiến trúc buôn làng hoặc đánh giá chung về chính sách kinh tế - xã hội. Lĩnh vực đời sống tinh thần của tộc người này dưới nhãn quan xã hội học, đặc biệt là sự biến đổi của các thực hành văn hóa trong bối cảnh đô thị hóa đối chiếu giữa hai địa bàn có tốc độ phát triển khác nhau, vẫn chưa được khảo sát một cách có hệ thống thông qua dữ liệu thực nghiệm định lượng kết hợp định tính.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tìm hiểu thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa theo trục thời gian và không gian cụ thể; phân tích các nhân tố ảnh hưởng (nhân khẩu xã hội, kinh tế, đô thị hóa, truyền thông đại chúng, tôn giáo, chính sách); từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm phát triển đời sống tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống và tiếp thu các giá trị mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm bốn điểm:

  1. Khái quát và phân tích những khái niệm, lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng; thực hiện thao tác hóa khái niệm phù hợp với nội dung nghiên cứu.
  2. Khái quát và đánh giá các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, chỉ ra nội dung, phương pháp, kết quả đạt được để xác định định hướng kế thừa và điểm mới.
  3. Khảo sát và phân tích thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho trong quá trình đô thị hóa thông qua mô tả nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng trên ba phương diện: hoạt động sinh hoạt thường ngày, nghi lễ vòng đời (cưới xin, ma chay) và hoạt động văn hóa kỳ dịp (lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, năm mới, Giáng sinh, lễ Tết, văn hóa cồng chiêng).
  4. Đề xuất các khuyến nghị phát triển đời sống tinh thần của người Kơho tại địa phương trong thời gian tới và bổ sung nguồn tư liệu cho phân ngành xã hội học văn hóa.

Về câu hỏi nghiên cứu, luận án đặt ra ba câu hỏi chính:

  1. Thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng hiện nay như thế nào?
  2. Quá trình đô thị hóa có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống tinh thần của người Kơho ở xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương? Có hay không sự tồn tại những khác biệt đáng kể trong đời sống tinh thần của người Kơho trên hai địa bàn xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Đà Lạt, Lâm Đồng?
  3. Ngoài yếu tố đô thị hóa thì các chính sách của Đảng và Nhà nước, các phương tiện truyền thông cũng như những yếu tố nhân khẩu (độ tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn) có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng?

Về giả thuyết nghiên cứu, tác giả đưa ra ba giả thuyết:

  • Giả thuyết 1: Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng hiện nay biểu hiện đa dạng, phong phú trong hình thức, cách thức và nội dung của các hoạt động giải trí, nghi lễ cưới xin, ma chay, lễ hội truyền thống và văn hóa cồng chiêng. Xu hướng biến đổi các hoạt động sinh hoạt tinh thần mang tính thích ứng, phù hợp với nhu cầu phát triển và hội nhập xã hội.
  • Giả thuyết 2: Đô thị hóa với các biểu hiện về dân cư, kinh tế - xã hội, hạ tầng và truyền thông góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần của người Kơho. Tồn tại sự khác biệt giữa hai địa bàn: người Kơho ở thị trấn Lạc Dương tham gia các hoạt động sinh hoạt tinh thần mới chiếm tỷ lệ cao hơn, lưu giữ giá trị văn hóa cồng chiêng tốt hơn so với xã Tà Nung; ngược lại, các giá trị văn hóa trong lễ hội truyền thống có xu hướng phai nhạt hơn so với xã Tà Nung.
  • Giả thuyết 3: Các yếu tố nhân khẩu (độ tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn), truyền thông đại chúng và chính sách của Đảng, Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần của người Kơho trên địa bàn khảo sát.

Về đối tượng và khách thể nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đời sống tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa.
  • Khách thể nghiên cứu: Cư dân người Kơho từ 18 đến 80 tuổi tại xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương; cán bộ chính quyền, cán bộ văn hóa và người Kinh sinh sống tại địa bàn có tác động đến đời sống tinh thần của người Kơho.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại xã Tà Nung (thành phố Đà Lạt) và thị trấn Lạc Dương (huyện Lạc Dương), tỉnh Lâm Đồng – hai địa bàn có tốc độ đô thị hóa khác nhau.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp sử dụng các công trình từ năm 2007 đến 2016. Dữ liệu thực nghiệm (khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn sâu cá nhân) được thu thập từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017.
  • Phạm vi nội dung: Giới hạn nghiên cứu đời sống tinh thần trên 3 khía cạnh: (1) Sinh hoạt văn hóa thường ngày (tiếp cận truyền hình, phát thanh, báo in, giao tiếp, giải trí thời gian rỗi); (2) Sinh hoạt văn hóa theo kỳ dịp (lễ hội mừng lúa mới, năm mới, đâm trâu, Tết, Giáng sinh, văn hóa cồng chiêng); (3) Nghi lễ theo vòng đời (cưới xin, ma chay).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu theo bốn hướng chủ đề chính:

  1. Các nghiên cứu về đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Tây Nguyên: Tác giả điểm lại công trình của Trần Đại Quang (2016) về giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên với phát triển bền vững; Kỷ yếu hội thảo khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn về "Đô thị hóa và quản lý quá trình đô thị hóa trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên"; luận án của Nguyễn Hồng Hà (2007) về kiến trúc đô thị và buôn làng truyền thống; Đỗ Tiến Dũng (1996) về dân số và môi trường Tây Nguyên; Lê Văn Thanh (2007) về phát triển nguồn nhân lực; Nguyễn Minh Tuấn (2012) về biến đổi văn hóa - xã hội vùng Tây Nguyên sau Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị; báo cáo của Nguyễn Văn Tiêm và cộng sự (1998); các công trình nhân học của Võ Tấn Tú (2016) về Tây Nguyên và hôn nhân người Chu Ru. Đáng chú ý, tác giả kế thừa chuỗi nghiên cứu trước đó của chính mình về người Kơho tại Lâm Đồng từ năm 2007 đến năm 2014 liên quan đến tiếp cận truyền thông đại chúng và biến đổi văn hóa tinh thần.

  2. Các nghiên cứu về đô thị hóa và đời sống văn hóa tinh thần: Luận án phân tích đường lối của Đảng và Nhà nước qua Nghị quyết số 22-NQ/TW (1988) của Bộ Chính trị khóa VI, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa Tây Nguyên. Về mặt học thuật, tác giả dẫn luận điểm của Phan Thị Hồng Xuân (2012), Đinh Xuân Lý và Đoàn Minh Huấn (2008), Phạm Ngọc Thanh (2013), Nguyễn Duy Bắc (2008), Tôn Nữ Quỳnh Trân và Nguyễn Văn Tiệp (2014) về đô thị hóa Nam Bộ; nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quang và cộng sự về đời sống văn hóa cư dân đô thị Hải Phòng; nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh (2002, 2003) về đặc trưng đô thị hóa nông thôn; Nguyễn Duy Thắng (2004) về nghèo khổ và phân tầng xã hội vùng ven Hà Nội; John Macionis (1988) về sự lan truyền lối sống đô thị; Hoàng Bá Thịnh và Trần Thị Hiền về biến đổi sinh kế và lối sống của người Lạch tại Măng Line; Mai Văn Hai và Mai Kiệm (2005) về nguy cơ đồng nhất hóa văn hóa trong toàn cầu hóa.

  3. Các nghiên cứu về người dân tộc thiểu số và phong tục tập quán: Bao gồm công trình của Khổng Diễn và Trần Bình (2007) về dân tộc Lô Lô; Vũ Thị Hồng về nhân chủng học người Kơho, Mạ, M’Nông; Nguyễn Văn Quyết (2013) về biến đổi văn hóa nông thôn quanh khu công nghiệp; Võ Tấn Tú (2010) về hôn nhân gia đình người Chu Ru; Mai Văn Hai và Ngô Ngọc Thắng (2003) về phong tục hôn nhân đồng bằng sông Hồng; Nguyễn Hữu Minh (2001, 2007) về tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu hôn nhân và tuổi kết hôn; Lê Ngọc Văn (2007); Vũ Tuyết Lan về người Dao Quần Chẹt; Nguyễn Thị Thạch Ngọc về hôn nhân người Ê Đê; Bùi Ngọc Quang về dân tộc Brâu; Khoàng Thị Quyên về người Thái trắng; Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ (1999); Bùi Quang Thanh (2009) về luật tục Quảng Nam; Trương Bi (2010) về lễ hội Ê Đê.

  4. Các nghiên cứu về vai trò của truyền thông đại chúng: Luận án tiếp thu các luận điểm của Trần Hữu Quang (1997, 2000, 2006) về xã hội học truyền thông và công chúng tại Thành phố Hồ Chí Minh; mô hình ba giai đoạn thích ứng truyền thông của Francis Balle; nghiên cứu của Belson về ảnh hưởng của truyền hình tới ngân sách thời gian; nghiên cứu kinh điển "People’s Choice" (1940) của Lazarsfeld, Berelson và Gaudet; Funkhauser về sự định hình dư luận; Trịnh Duy Luân (2002) về hưởng thụ văn hóa trong thời gian rỗi; Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (2008) về khía cạnh giới trong tiếp cận truyền thông và thời gian rỗi.

Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây tiếp cận văn hóa Tây Nguyên dưới góc nhìn mô tả dân tộc học tĩnh tại hoặc đánh giá thuần túy về phát triển hạ tầng kinh tế đô thị. Luận án định vị nghiên cứu của mình vào việc phân tích biến đổi đời sống tinh thần của tộc người Kơho bằng phương pháp xã hội học thực nghiệm, đặt trong cấu trúc so sánh đối chiếu giữa hai không gian có mức độ đô thị hóa khác nhau (đô thị hóa cao tại thị trấn Lạc Dương và đô thị hóa thấp/nông thôn tại xã Tà Nung), làm rõ cơ chế thích ứng của người dân thông qua số liệu định lượng cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử (Phạm Tất Dung, Lê Ngọc Hùng, 2008), xem xét các hiện tượng ý thức xã hội và văn hóa tinh thần bắt nguồn từ điều kiện tồn tại xã hội, trong mối quan hệ biện chứng với hạ tầng kinh tế và phương thức sinh kế.

Bên cạnh đó, tác giả phối hợp bốn lý thuyết xã hội học chuyên ngành:

  • Lý thuyết lựa chọn hợp lý: Giải thích hành vi của cá nhân người Kơho trong việc cân nhắc chi phí, lợi ích, nhu cầu thực tế để giữ lại, giản lược hoặc tiếp nhận các thực hành văn hóa mới (chẳng hạn như thay đổi vật thách cưới, cách thức tổ chức ma chay, lựa chọn phương tiện nghe nhìn).
  • Lý thuyết biến đổi xã hội: Làm rõ sự chuyển dịch cấu trúc xã hội truyền thống của người Kơho từ tổ chức bon làng khép kín, tự cấp tự túc sang cộng đồng mở chịu tác động của kinh tế thị trường, giao lưu văn hóa và phân hóa xã hội.
  • Lý thuyết tiếp biến văn hóa: Phân tích quá trình tương tác, thâm nhập và thích nghi văn hóa giữa người Kơho với người Kinh di cư và các giá trị lối sống thị dân.
  • Lý thuyết đô thị hóa: Vận dụng các định nghĩa của G. Trommsdorff (mở rộng lối sống thành thị), Đình Quang (chuyển dịch từ lối sống nông thôn sang đô thị, từ văn hóa làng xã sang văn hóa đô thị), John Macionis (lan tỏa khuôn mẫu hành vi đô thị) để phân tích sự chuyển dịch từ văn hóa làng xã sang lối sống đô thị tại địa bàn khảo sát.

Khung phân tích của luận án xác lập mối quan hệ tác động từ: (1) Điều kiện chính trị - văn hóa - xã hội; (2) Quá trình đô thị hóa (dân cư, kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, truyền thông); (3) Đặc trưng nhân khẩu (học vấn, độ tuổi, thu nhập, tôn giáo) tới ba thành tố của Đời sống tinh thần người Kơho: sinh hoạt văn hóa thường ngày, sinh hoạt văn hóa theo kỳ dịp và nghi lễ theo vòng đời.

Phương pháp thu thập thông tin:

  1. Phân tích tài liệu thứ cấp: Các văn bản chính sách, niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng và các công trình nghiên cứu đi trước.
  2. Điều tra bằng bảng hỏi: Chọn mẫu ngẫu nhiên 477 đại diện hộ gia đình người Kơho từ 18 tuổi trở lên tại hai địa bàn. Bảng hỏi gồm các câu hỏi đóng, mở và bán đóng.

Bảng cơ cấu mẫu khảo sát của luận án (N = 477):

Đặc trưng nhân khẩu - xã hội Phân nhóm chỉ báo Thị trấn Lạc Dương (n=253) % Xã Tà Nung (n=224) % Toàn mẫu (N=477) %
Giới tính Nam 123 48,6 82 36,6 205 43,0
Nữ 130 51,4 142 63,4 272 57,0
Nhóm địa phương Lạch 157 62,1 26 11,6 183 38,4
Sêrê 1 0,4 22 9,8 23 4,8
Chil 95 37,5 176 78,6 271 56,8
Tôn giáo Thiên Chúa giáo 128 50,6 69 30,8 197 41,3
Tin Lành 125 49,4 155 69,2 280 58,7
Nghề nghiệp Nông nghiệp 224 88,5 197 87,9 421 88,3
Khác (giáo viên, bác sĩ, CNTT, y tế, công an xã) 29 11,5 27 12,1 56 11,7
Trình độ học vấn Mù chữ / chưa từng đi học 17 6,7 25 11,2 42 8,8
Tiểu học 70 27,7 72 32,1 142 29,8
Trung học cơ sở (THCS) 70 27,7 75 33,5 145 30,4
Trung học phổ thông (THPT) 80 31,6 39 17,4 119 24,9
Trung cấp, CĐ, ĐH 16 6,3 13 5,8 29 6,1
Tình trạng hôn nhân Độc thân 44 17,4 30 13,4 74 15,5
Có vợ / chồng 198 78,3 181 80,8 379 79,5
Khác (ly hôn, ly thân, góa) 11 4,3 13 5,8 24 5,0
Độ tuổi Từ 18 đến 35 tuổi 134 53,0 116 51,8 250 52,4
Từ 36 đến 45 tuổi 34 13,4 40 17,9 74 15,5
Từ 46 đến 60 tuổi 58 22,9 52 23,2 110 23,1
Từ 61 tuổi trở lên 27 10,7 16 7,1 43 9,0
  1. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 26 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân bán cấu trúc, gồm: 04 cuộc với cán bộ lãnh đạo chính quyền địa phương (2 cuộc tại xã Tà Nung, 2 cuộc tại thị trấn Lạc Dương); 02 cuộc với cán bộ phụ trách văn hóa thông tin (1 cuộc tại mỗi địa bàn); 20 cuộc với người dân từ 18 tuổi trở lên (già làng, trưởng bản, người Kơho và người Kinh) để khai thác các câu chuyện điển hình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng thuật 4 nhóm tài liệu: nghiên cứu văn hóa tinh thần Tây Nguyên; nghiên cứu đô thị hóa và biến đổi lối sống; nghiên cứu nhân học, dân tộc học về phong tục hôn nhân các dân tộc bản địa; nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng. Tác giả chỉ ra các khoảng trống và định vị nghiên cứu của luận án vào việc phân tích thực nghiệm đời sống tinh thần tộc người Kơho dưới góc độ biến đổi xã hội và tiếp biến văn hóa.

Chương 2: Cơ sở lý luận, thực tiễn và địa bàn nghiên cứu

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ: đời sống tinh thần (dựa trên quan điểm tiếp cận của Đặng Cảnh Khanh, Pierre Bourdieu, Cheboksarov, Radughin, L. Ionin và phân loại di sản của UNESCO); quá trình đô thị hóa (tiếp cận từ góc độ lan tỏa lối sống và biến đổi cấu trúc dân cư theo G. Trommsdorff, Đình Quang, Đặng Quang Thành); đặc điểm tộc người Kơho (tổ chức xã hội bon làng truyền thống, chế độ mẫu hệ, cơ cấu các nhánh địa phương Lạch, Chil, Sêrê). Chương này trình bày chi tiết các lý thuyết chỉ đạo (chủ nghĩa duy vật lịch sử, lựa chọn hợp lý, biến đổi xã hội, tiếp biến văn hóa, đô thị hóa), quan điểm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và đặc điểm kinh tế - xã hội của hai địa bàn khảo sát Tà Nung và Lạc Dương.

Chương 3: Đời sống tinh thần của người Kơho qua hoạt động sinh hoạt văn hóa thường ngày

Chương 3 tập trung phân tích các biểu hiện sinh hoạt hàng ngày thông qua 11 bảng thống kê (Bảng 3.1 đến 3.11) và 14 hình (Hình 3.1 đến 3.14).

  • Các hoạt động giao tiếp truyền thống như thăm hỏi láng giềng, sinh hoạt tôn giáo tại Chùa, Nhà thờ, Đền Miếu và việc thăm hỏi hiếu hỉ, phúng điếu vẫn được duy trì ở mức độ cao, phản ánh tính gắn kết cộng đồng bon làng.
  • Về hoạt động giải trí trong thời gian rỗi, phương tiện truyền thông đại chúng đã thâm nhập sâu vào đời sống: người dân theo dõi truyền hình với tỷ lệ cao, thời lượng xem và mục đích xem tập trung vào tin tức và giải trí; hình thức xem truyền hình và sử dụng dịch vụ truyền hình có sự khác biệt giữa hai địa bàn (thị trấn Lạc Dương có mức độ trang bị tiện nghi sinh hoạt và dịch vụ truyền hình cáp/vệ tinh cao hơn xã Tà Nung). Tần suất nghe phát thanh, radio và đọc báo in duy trì ở mức thấp hơn do hạn chế về nguồn cung cấp và sự cạnh tranh từ truyền hình.
  • Phân tích tương quan chỉ ra các yếu tố tác động: điều kiện kinh tế hộ gia đình (thu nhập, mức chi tiêu trung bình tháng và năm có sự cải thiện so với 10 năm trước nhưng vẫn còn phân hóa); trình độ học vấn và đặc điểm giới tính tạo ra sự khác biệt trong lựa chọn kênh tiếp nhận thông tin; mức độ đô thị hóa tại Lạc Dương thúc đẩy nhu cầu tiếp cận các tiện nghi văn hóa hiện đại nhanh hơn so với Tà Nung.

Chương 4: Đời sống tinh thần của người Kơho qua các hoạt động văn hóa theo kỳ dịp

Chương 4 khảo sát các sinh hoạt lễ hội định kỳ dựa trên hệ thống dữ liệu từ Bảng 4.1 đến 4.9 và Hình 4.1 đến 4.3.

  • Về lễ hội truyền thống nông nghiệp: Lễ hội mừng lúa mới (Nhô Lir Bông hay Nhô Lirvong) và lễ hội đâm trâu (nho sa rơ pu) có xu hướng suy giảm về quy mô và tần suất tổ chức. Thay vào đó, các ngày lễ tôn giáo hiện đại như Lễ Tết Nguyên đán và Lễ Giáng sinh trở thành sinh hoạt thường niên thu hút sự tham gia của đại đa số cư dân thuộc hai tôn giáo Thiên Chúa và Tin Lành.
  • Không gian văn hóa cồng chiêng: Ý nghĩa văn hóa cồng chiêng trong đời sống tâm linh có sự chuyển dịch. Tại thị trấn Lạc Dương, cồng chiêng được bảo lưu và phục dựng mạnh mẽ hơn nhờ gắn kết với hoạt động du lịch văn hóa dưới chân núi Langbiang; trong khi tại xã Tà Nung, cồng chiêng chủ yếu gắn với các dịp lễ hội truyền thống nhưng có phần trầm lắng hơn.
  • Phân tích nguyên nhân biến đổi cho thấy yếu tố tôn giáo đóng vai trò then chốt: các giáo lý tôn giáo mới du nhập đã dẫn đến việc loại bỏ dần các nghi thức hiến tế động vật (đâm trâu) hoặc các yếu tố tín ngưỡng vạn vật hữu linh cũ. Sự phát triển kinh tế, đô thị hóa và giao lưu văn hóa qua phương tiện truyền thông đại chúng là những nhân tố thúc đẩy người dân lựa chọn các hình thức sinh hoạt văn hóa phù hợp với nhịp sống mới.

Chương 5: Đời sống tinh thần của người Kơho qua các nghi lễ theo vòng đời

Chương 5 phân tích hai nghi lễ chuyển đoạn căn bản của vòng đời người Kơho: cưới xin và ma chay (Bảng 5.1 đến 5.6 và Hình 5.1 đến 5.3).

  • Về nghi lễ cưới xin: Luận án làm rõ sự biến đổi của tục "bắt chồng" truyền thống theo chế độ mẫu hệ. Dù phụ nữ vẫn đóng vai trò chủ động và con cái sinh ra mang họ mẹ, song sự chủ động này ngày nay mang tính hình thức hóa và có sự bàn bạc bình đẳng giữa hai bên gia đình. Vật thách cưới truyền thống (trâu, chiêng, chóe) đã dần chuyển dịch sang tiền mặt hoặc hiện vật có giá trị kinh tế hiện đại (vàng, trang sức). Về trang phục cưới, cô dâu chú rể có xu hướng kết hợp hoặc thay thế trang phục dệt thổ cẩm truyền thống bằng trang phục cưới kiểu phương Tây (áo cưới soirée, veston). Tuổi kết hôn có xu hướng nâng cao hơn so với giai đoạn trước.
  • Về nghi lễ ma chay: Quan niệm về cái chết và cách thức báo tin tang ma đã có sự thay đổi. Các nghi thức phức tạp như lễ nhập quan, chia của cải, cúng tế cho người chết, thời gian quàn thi hài và tục hạ huyệt được rút ngắn thời gian cử hành (từ nhiều ngày trước đây xuống còn 2-3 ngày) nhằm bảo đảm vệ sinh môi trường và tiết kiệm chi phí tổ chức. Quá trình này chịu sự tác động kép từ quy ước của chính quyền cơ sở và các quy định của tổ chức tôn giáo (giáo xứ Thiên Chúa giáo hoặc chi hội Tin Lành).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án vận dụng kết hợp khung lý thuyết xã hội học (Biến đổi xã hội, Lựa chọn hợp lý, Đô thị hóa, Tiếp biến văn hóa) để kiến giải sự biến đổi văn hóa tinh thần của một tộc người thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong bối cảnh phát triển đô thị.
  • Làm rõ cơ chế chọn lọc hợp lý của cư dân Kơho: người dân không tiếp nhận lối sống đô thị một cách thụ động mà chủ động điều chỉnh, chọn lọc các yếu tố phù hợp (hiện đại hóa trang phục, tiện nghi sinh hoạt, tiết giảm chi phí nghi lễ vòng đời) trong khi vẫn nỗ lực giữ gìn các cốt lõi bản sắc tộc người (chế độ gia đình mẫu hệ, văn hóa cồng chiêng, tinh thần cộng đồng làng bon).

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm gồm 477 phiếu hỏi và 26 phỏng vấn sâu tại hai địa bàn thực địa Tà Nung và Lạc Dương, phản ánh thực trạng đời sống tinh thần của người Kơho năm 2017.
  • Xác định và chứng minh sự khác biệt mang tính quy luật giữa hai vùng đô thị hóa: người Kơho ở thị trấn Lạc Dương tiếp cận phương tiện truyền thông mới, tiện nghi sinh hoạt và bảo lưu văn hóa cồng chiêng gắn với du lịch tốt hơn; trong khi người Kơho ở xã Tà Nung duy trì các thực hành gắn với canh tác nông nghiệp truyền thống rõ nét hơn.
  • Luận chứng tác động của tôn giáo (Thiên Chúa giáo và Tin Lành) như một biến số quan trọng tái định hình các nghi lễ kỳ dịp và nghi lễ vòng đời, thay thế dần các hủ tục tốn kém bằng nếp sống văn minh hơn.

Về khuyến nghị và giải pháp:

  • Đối với công tác bảo tồn di sản: Cần có chính sách hỗ trợ kinh phí, không gian sinh hoạt văn hóa cồng chiêng gắn với mô hình sinh kế du lịch cộng đồng bền vững, tránh tình trạng thương mại hóa làm biến dạng giá trị truyền thống.
  • Đối với truyền thông cơ sở: Tăng cường thời lượng, chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Kơho; xây dựng các thiết chế văn hóa (nhà văn hóa thôn buôn, câu lạc bộ) phù hợp với nhu cầu sinh hoạt thực tế của người dân.
  • Đối với công tác quản lý xã hội: Kết hợp linh hoạt giữa quy ước, hương ước cộng đồng với giáo lý tôn giáo tiến bộ và luật pháp nhà nước nhằm vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Phạm vi nghiên cứu thực địa mới dừng lại ở hai địa bàn thuộc vùng phụ cận Đà Lạt (xã Tà Nung) và huyện Lạc Dương (thị trấn Lạc Dương). Do tính đa dạng của các phân nhóm địa phương người Kơho (như Kơho Srê, Kơho Nộp, Kơho Pru...), kết quả nghiên cứu chưa thể đại diện hoàn toàn cho toàn bộ cộng đồng người Kơho trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và khu vực Tây Nguyên.
  • Một số đánh giá về sự biến đổi trong 10 năm qua phải dựa vào phương pháp hồi cố qua trí nhớ của đối tượng khảo sát, do đó có thể chịu ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan của người trả lời.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa bàn cư trú khác của người Kơho như Di Linh, Bảo Lộc, Lâm Hà để so sánh sự khác biệt văn hóa giữa các phân nhóm địa phương.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của mạng xã hội, điện thoại thông minh và cuộc cách mạng công nghệ số đối với sự biến đổi tâm lý, lối sống của thế hệ trẻ người dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

  • Đối với học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Công trình là tài liệu tham khảo trong các chuyên đề Xã hội học văn hóa, Xã hội học đô thị, Xã hội học nông thôn và Dân tộc học. Luận án cung cấp mô hình thao tác hóa khái niệm đời sống tinh thần thành các biến số đo lường thực nghiệm cụ thể và cách kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng với định tính.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Dữ liệu thực chứng của luận án cung cấp căn cứ khoa học cho Ban Dân tộc tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, cũng như chính quyền thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương trong việc triển khai quy hoạch đô thị gắn với bảo tồn văn hóa buôn làng truyền thống theo định hướng Quyết định 704/QĐ-TTg.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cơ cấu mẫu khảo sát của luận án được phân bổ như thế nào giữa hai địa bàn nghiên cứu? Tổng mẫu khảo sát là 477 đại diện hộ gia đình người Kơho từ 18 tuổi trở lên, gồm 253 đơn vị tại thị trấn Lạc Dương (chiếm 53,0%) và 224 đơn vị tại xã Tà Nung (chiếm 47,0%). Về giới tính, nam chiếm 43,0% (205 người) và nữ chiếm 57,0% (272 người). Về nhóm địa phương, người Chil chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,8% (271 người), người Lạch chiếm 38,4% (183 người) và người Sêrê chiếm 4,8% (23 người).

  2. Đô thị hóa tạo ra sự khác biệt cụ thể nào trong đời sống tinh thần giữa người