Chương 1, 2, 3 đề tài sẽ tóm lược lại những phát hiện chính trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp đối với sự biến đổi cơ cấu lao động việc làm nông thôn theo hướng tích cực. 17 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm đô thị hóa Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các vùng đô thị và làm nâng vai trò của đo thị đối với sự phát triển của xã hội”.
[6; tr 6] Theo cách tiếp cận nhân khẩu và địa lý kinh tế, quá trình đô thị hóa chính là “sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là đô thị”.[17; tr 4] Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia. Theo Phạm Ngọc Côn “Đô thị hóa là một quá trình biến đổi các khu vực lãnh thổ đô thị. Khu vực lãnh thổ ban đầu có thể là cánh đồng nông nghiệp-lâm nghiệp, đất trống, đồi trọc hay khu dân cư nông thôn.[14] Theo Nguyễn Ngọc Tuấn: “Đô thị hóa là quá trình mở rộng mạng lưới các thành phố và phổ biến lối sống thành thị, tập trung dân cư và đẩy mạnh các hoạt động kinh tế khác nhau trên lãnh thổ, đô thị hóa là chỉ tiêu để xác định mức độ phát triển của một quốc gia”. [9; tr 6] Theo Phạm Hùng Cường thì: Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp diễn ra trên một không gian rộng lớn mà người ta có thể biểu thị nó qua các yếu tố sau: - Sự tăng nhanh của tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân.
- Sự tăng lên của số lượng các đô thị đồng thời với sự mở rộng của các không gian đô thị. - Sự chuyển hóa về lối sống phân tán sang tập trung từ điều kiện hạ tầng kinh tế đơn giản sang phức tạp và có thể nảy sinh nhiều yếu tố được coi là những hậu quả trong quá trình đô thị hóa như sự khó khăn về nhà ở, sự gia tăng các khu nhà ổ chuột nạn ô nhiễm môi trường. [9, tr 6] Những dấu hiệu định lượng của quá trình đô thị hóa được nghiên cứu khá kỹ lưỡng dựa trên cơ sở tiếp cận nhân khẩu học và địa lý kinh tế. Tuy nhiên để 18 z giải thích được toàn bộ tầm quan trọng, ảnh hưởng và vai trò của đô thị hóa đến sự phát triển chung của xã hội hiện đại, các nhà khoa học hiện nay có xu hướng quan niệm về đô thị hóa từ cách tiếp cận của xã hội học hiểu: một quá trình kinh tế-xã hội lịch sử mang tính quy luật trên quy mô toàn cầu.
Khái quát hơn đô thị hóa được xem là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại. Ở đó bên cạnh mặt dân số, địa lý môi trường còn có mặt xã hội một mặt quan trọng của vấn đề. [ 12; tr 45] Biểu hiện thứ hai của quá trình đô thị hóa từ góc độ xã hội học được tác gia John Macionis đã đưa ra quan điểm về đô thị hóa từ giác độ xã hội học trong cuốn sách giáo khoa về xã hội học (năm 1988) như sau: “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội” Đó cũng chính là sự phổ biến và la truyền những khuôn mẫu hành vi ứng, vốn đặc trưng cho người dân đô thị, sự lan truyền của một lối sống đô thị hay các quan hệ văn hóa đô thị tới các vùng nông thôn trên toàn bộ xã hội nói chung. Ở đây, đáng lưu ý tới khái niệm lối sống đô thị hay đặc trưng đô thị.
Khái niệm này đã được Louis Wirth một đại biểu của xã hội học đô thị Mĩ thuộc trường phái Chicago đưa ra năm 1938 trong công trình “Đặc trưng của đô thị như một lối sống”. Theo ông đặc trưng của đô thị là các kiểu mẫu của văn hóa, cấu trúc xã hội tiêu biểu cho các thành phố và khác biệt rõ rệt với văn hóa của cộng đồng nông thôn. Tóm lại đô thị hóa được hiểu là một quá trình biến đổi và phân bố dân cư, các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, là quá hình thành phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và tăng quy mô dân số. Quá trình đô thị hóa được diễn ra theo hướng: - Xây dựng mới ngay từ đầu các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch vui chơi giải trí… - Mở rộng, nâng cấp, cải tạo các thành phố, tụ điểm dân cư thành các đô thị 19 z mới; sát nhập một số đơn vị hành chính lân cận để mở rộng quy mô của các thành phố, thị xã, thị trấn.
- Đô thị hỗn hợp: nghĩa là đô thị mới được xây dựng bên cạnh đô thị cũ. - Liên kết các đô thị với nhau tạo nên một trung tâm mới – vùng đô thị với quy mô lớn: hình thành tổ hợp khu công nghiệp, hình thành các thành phố, trung tâm và các thành phố vệ tinh. Khái niệm hộ gia đình Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa hộ gia đình như sau: Hộ là đơn vị quản lý dân số của Việt Nam, bao gồm những người có quan hệ gia đình cùng ở chung một nhà được cơ quan quản lý cấp cho một quyển sổ hộ khẩu ghi rõ họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp của từng người. Hộ gia đình gồm những người có cùng quan hệ gia đình như ông bà, bố mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị, em ruột và những người được chủ hộ (đứng đầu hộ) đồng ý cho nhập vào cùng ở chung một nhà.
Theo định nghĩa trên trong phạm vi nghiên cứu này hộ gia đình được xác định như sau: Hộ gia đình là một hoặc một nhóm người cùng ăn chung, ở chung trong một nhà từ 6 tháng trở lên và có chung quỹ thu chi. Thành viên hộ gia đình: theo cách xác định trên, những người được coi là thành viên hộ gia đình bao gồm: - Những người cùng ăn, ở chung trong hộ từ đủ 6 tháng trở lên. - Những người có chung quỹ thu chi (mọi khoản thu nhập của thành viên đều được coi đóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngân sách đó) Một số lưu ý đối với thành viên của hộ gia đình như sau: a) Các trường hợp được tính là thành viên của hộ gia đình: - Chủ hộ (ngay cả khi người đó không ăn ở trong hộ gia đình với thời gian hơn 6 tháng trong trường hợp vẫn duy trì mối quan hệ với gia đình). - Trẻ em mới sinh hoặc mới nhận làm con nuôi.
20 z - Những người tương lai sẽ ở lâu dài trong hộ, kể cả có/ chưa có giấy chứng nhận (giấy đăng ký kết hôn, giấy chuyển đến, giấy xuất ngũ về với gia đình…) mặc dù sống tại hộ chưa đủ 6 tháng bao gồm: con dâu về nhà chồng, con rể về nhà vợ, người đi làm việc, học tập, lao động ở nước ngoài hoặc các cơ quan xí nghiệp trong nước trở về hộ, người từ lực lượng vũ trang trở về, về nghỉ hưu, nghỉ mất sức…(vẫn được coi là thành viên của hộ). b) Các trường hợp không được tính là thành viên hộ gia đình: - Người ở trọ, người làm thuê, người giúp việc, họ hàng đến ở nhờ có gia đình riêng sống ở nơi khác. - Thành viên trong hộ đi làm xa nhà trên 6 tháng/ năm, tách hẳn việc ăn uống sinh hoạt chi tiêu cùng gia đình nhưng vẫn gửi thu nhập về cho gia đình (mặc dù thu nhập của họ vẫn được tính vào thu nhập của hộ gia đình) - Những người chuyển khỏi hộ có tính chất lâu dài và người đã chết tính đến thời điểm khảo sát tại địa bàn sẽ không được tính là thành viên của hộ. Khái niệm lao động và cơ cấu lao động Khái niệm lao động tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa ra khái niệm “lao động” tương ứng.
Tuy nhiên các quan điểm đều tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Thứ hai coi lao động chính là bản thân con người, là sự nỗ lực vật chất và tinh thần của con người dưới dạng hoạt động tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người. Dựa vào quan niệm lao động là hành động xã hội người ta phân biệt 5 yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc của lao động: đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động, điều kiện lao động và chủ thể lao động. Trong đó chủ thể lao động là con người với tất cả đặc điểm tâm sinh lý, xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa cá nhân.
Như vậy lao động chính là bản thân con người với tất cả sự nỗ lực vật chất và tinh thần của nó thông qua hoạt động lao động của mình, sử dụng 21 z các công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động để đạt được mục đích nhất định. Lao động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông nghiệp được coi là lao động nông nghiệp. [5; tr 15] Khái niệm cơ cấu lao động: Theo nhà xã hội học có nhiều cách định nghĩa khác nhau về cơ cấu xã hội: dưới đây là hai định nghĩa cơ bản: Theo định nghĩa thứ nhất “Cơ cấu xã hội là mối liên hệ vững chắc của các thành tố bên trong hệ thống xã hội. Các cộng đồng xã hội (dân tộc, giai cấp, nhóm nghề nghiệp.) là những thành tố cơ bản.
Về phần mình, mỗi cộng đồng xã hội lại có cơ cấu phức tạp với những tầng lớp bên trong và mối liên hệ giữa chúng.) [9; tr 205] Theo định nghĩa thứ hai “Cơ cấu xã hội là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội. Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối liên hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác. Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu chính là vị trí, vai trò, nhóm và các thiết chế.