Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI. Cơ sở thực tiễn. 30 phát triển kinh tế nông thôn. 32 Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG DI CƯ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN – THÀNH THỊ TẠI XÃ HÒA PHÚ, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN.
Thực trạng, đặc trưng di cư lao động tại xã Hòa Phú. Xu hướng di cư lao động nông thôn- đô thị tại xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. 48 Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ ĐẾN ĐỜI SỐNG HỘ GIA ĐÌNH. Tác động của di cư lao động nông thôn - đô thị đến đời sống kinh tế của gia đình có người di cư.
Tác động đến việc chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình của người di cư. Tác động đến việc tham gia các hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí. 65 Tiểu kết chương 3. 67 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
72 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 74 PHỤ LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT Phỏng vấn sâu: PVS Hội đồng nhân dân: HĐND Ủy ban nhân dân: UBND DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Số lượng dân cư đang sinh sống ở xã Hòa Phú. 17 Bảng 2: Cơ cấu mẫu điều tra định lượng phân chia theo thôn .1: Số người di cư và tỷ lệ người di cư trong 5 năm chia theo luồng di cư và loại hình di cư, 1999-2014 .2: Tỷ lệ di cư theo vùng kinh tế- xã hội theo giới tính (Đơn vị tính: %) .1: Mức sống hộ gia đình và số lượng người di cư (Đơn vị: %).2: Vai trò của lao động di cư đối với sự phát triển nông thôn .1: Tần suất gửi tiền về cho gia đình của lao động di cư .2: Tiền gửi về cho gia đình của lao động di cư trong 12 tháng qua.3: Tương quan giữa mức đóng góp của lao động di cư và mức độ tiếp cận dịch vụ y tế và khám chữa bệnh của hộ gia đình sau khi có người di cư (Đơn vị: %) .4: Tương quan giữa mức đóng góp của lao động di cư và mức độ ảnh hưởng của lao động di cư đến việc vui chơi, giải trí công cộng của hộ gia đình (Đơn vị: %). 66 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ dân dân số di cư phân theo vùng kinh tế- xã hội, 2009 .1: Số lao động chính trong hộ gia đình có người di cư (Đơn vị: %) .2: Mức sống của hộ gia đình có người di cư (Đơn vị: %).3: Giới tính của người lao động di cư (Đơn vị: %) .4: Độ tuổi của lao động di cư (Đơn vị: %) .5: Tình trạng hôn nhân của lao động di cư (Đơn vị: %) .6: Lý do quyết định di cư của lao động di cư (Đơn vị: %) .7: Điều kiện người lao động cần có để di cư (Đơn vị: %) .8: Mong muốn về việc di cư của các thành viên trong gia đình (Đơn vị: %) .1: Ảnh hưởng của lao động di cư đến sản xuất và đời sống hộ gia đình (Đơn vị: %).2: Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình của lao động di cư (Đơn vị: %) .3: Việc gửi tiền về cho gia đình của lao động di cư (Đơn vị: %) .4: Mục đích sử dụng số tiền gửi về của lao động di cư .5: Mức sống hộ gia đình không có lao động di cư so với gia đình có lao động di cư (Đơn vị: %).
Tính cấp thiết của đề tài Di dân là một hiện tượng khách quan và phổ biến trong suốt quá trình lịch sử phát triển của nhân loại. Hiện nay, hoạt động di cư vẫn diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển với xu hướng chủ yếu là di dân nông thôn – thành thị. Giống như các quốc gia khác, di dân ở Việt Nam là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính quy luật, một cấu thành tất yếu của sự phát triển [6] [37]. Xu hướng chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị ngày càng diễn ra phổ biến với quy mô và cường độ cao.
Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp, dịch vụ và sự chênh lệch lớn về thu nhập, mức sống… ở đô thị đã mở ra cơ hội việc làm, thu hút một lượng lớn lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị, nhất là đối với khu vực kinh tế năng động phát triển như khu vực Đông Nam Bộ: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, nơi có mức độ tập trung cao các khu công nghiệp và phát triển kinh tế nói chung với nhu cầu lớn về lực lượng lao động mà địa phương không thể đáp ứng được [36, tr. Di cư lao động nông thôn - đô thị có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở cả nơi xuất cư lẫn nơi nhập cư. Một mặt lao động di cư nông thôn đến đô thị là động lực tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế, phân bố lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động, giải quyết việc làm và được coi là bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế bền vững. Mặt khác, việc di dân cũng mang lại không ít những hệ lụy liên quan, kể cả đối với địa bàn nơi đi cũng như nơi đến.
Từ trước đến nay, có rất nhiều nghiên cứu về di cư của các tác giả Bùi Quang Dũng (2010), Đặng Nguyên Anh (2008), Nguyễn Thanh Liêm (2007), Rolf Jensen, Donald M. và Vũ Thị Minh Thắng (2009) … cùng các cuộc điều tra với quy mô lớn và mang tính tổng quát về tình trạng, nguyên 1 nhân và các vấn đề di dân dưới góc độ người xuất cư. Hầu hết các nghiên cứu tập trung tại nơi đến của các dòng di cư, trong khi các quyết định di cư được thực hiện tại nơi đi trước khi quá trình di cư diễn ra. Có nhiều vấn đề liên quan và yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động cần được xem xét tại hộ gia đình ở lại.
Câu hỏi đặt ra là liệu lao động di cư nông thôn đến đô thị có vai trò gì và tác động như thế nào đến gia đình có người xuất cư (hay những hộ gia đình ở lại)? Tôi quyết định tiến hành tìm hiểu di cư lao động từ nông thôn đến đô thị từ góc nhìn của hộ gia đình ở lại, với trường hợp cụ thể tại xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Đây là một xã thuần nông nghiệp, thu nhập thấp, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Chính vì thế, một số lượng lớn người lao động trong xã đã chọn cách di cư vào các thành phố lớn mà nhiều nhất là vùng Đông Nam Bộ để mưu sinh, nâng cao thu nhập để chăm lo cho cuộc sống cá nhân và gia đình. Xuất phát thực tiễn và mối quan tâm trên, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Di cư lao động nông thôn - đô thị từ góc độ người ở lại” (Nghiên cứu tại xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) là đề tài luận văn cho quá trình học tập của mình.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Quá trình di dân đã diễn ra từ rất lâu trong lịch sử và nó diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Di dân là đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu như: xã hội học, dân số học nghiên cứu kinh tế, thống kê học, khoa học lịch sử, địa lý học. Do đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến di cư trên phạm vi toàn thế giới cũng như Việt Nam. Di dân nông thôn - đô thị trở thành một hiện tượng xã hội nổi trội, cùng với hiện tượng đô thị hóa trong các nước phát triển.
Các nghiên cứu về di dân nông thôn - đô thị trở thành một xu hướng không chỉ phát triển ở nước Mỹ và châu Âu mà còn ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh. Một số nước châu Á 2 như Nhật Bản, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Malayxia, Hàn Quốc, Trung Quốc đã trải qua quá trình đô thị hóa mạnh, vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về di dân nông thôn - đô thị. Về mặt lý thuyết và phương pháp luận, các nghiên cứu này vẫn chủ yếu dựa vào mô hình lý thuyết và phương pháp luận của một số học giả phương Tây. Song do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc điểm tự nhiên cùng đặc điểm về con người châu Á khác nhau nên các nghiên cứu trong khu vực có những bổ sung, cụ thể hóa lý thuyết và phương pháp luận trong nghiên cứu của phương Tây về di cư.
Nghiên cứu về di cư là một chuyên ngành phát triển trong xã hội học. Cùng với mô tả về những đặc trưng của người di cư, xã hội học về di cư tập trung làm rõ các vấn đề xã hội, sự thích ứng của người di cư và ảnh hưởng xã hội của di cư, hướng mạnh vào nghiên cứu di dân trong liên hệ với sự ổn định và phát triển xã hội. Nhưng những nghiên cứu xã hội học về di cư trên thế giới thường hướng vào bất bình đẳng xã hội giữa người chính cư và nhập cư, chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của di cư nông thôn - đô thị từ góc nhìn, nhận thức của những người trong hộ gia đình ở lại. Một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất trong nghiên cứu di cư nông thôn – đô thị là mô hình di cư của Haris – Todaro [20, tr.
Mô hình xem xét tác động của yếu tố kinh tế trong quyết định của người dân di cư, yếu tố này dựa trên mức chênh lệch lớn về tiền công lao động giữa nông thôn và thành thị. Lao động di cư ra thành thị kỳ vọng mức tiền công cao hơn so với nông thôn nơi đi mặc dù trên thực tế sự chênh lệch này là không đang kể trong một số trường hợp. Chính sự kỳ vọng tiền công cao của người di cư ra thành thị đã thúc đẩy lao động di cư ở các nước đang phát triển. Hạn chế của mô hình này là sự cân bằng tiền công giữa hai khu vực rất khó xảy ra.
Các luồng di cư ngược từ thành thị và nông thôn, hoặc hình thức di cư con lắc không được giải thích đầy đủ. Ngoài ra, mô hình này chỉ đề cập 3 đến yếu tố kinh tế trong khi nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng có những trường hợp yếu tố kinh tế không phải là tác động quan trọng duy nhất đối với quyết định di cư. Khoảng cách, xã hội, cuộc sống, chính trị an ninh, biến đổi khí hậu, cũng là tác nhân quan trọng trong các quyết định di cư.