Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA VIÊN CHỨC TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Những vấn đề chung về văn hóa ứng xử của viên chức đơn vị sự nghiệp công lập 1. Những khái niệm liên quan 1. Khái niệm văn hóa Trước hết, theo nghĩa rộng nhất, văn hóa được Edward B.
Taylor đã định nghĩa như sau: “Văn hóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất về dân tộc học của nó, là toản bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viên xã hội” [28; tr17]. Với quan điểm này của Edward B. Taylor thì văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo và phục phục vụ đời sống cho con người. Tuyên bố về những chính sách văn hóa - Hội nghị Quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26/7 đến 6/8/1982 tại Mêhicô, đã ra tuyên bố rộng về định nghĩa văn hóa: “Trong nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng” [Dẫn theo 42; tr41- 42]. Cũng với xu hướng quan niệm văn hóa theo nghĩa rộng nhất này, trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15; tr458].
Ở định nghĩa văn hóa của Chủ tịch 13 Hồ Chí Minh đã được Người giới hạn cụ thể hơn về việc sáng tạo các giá trị văn hóa, xuất phát là vì mục đích sinh tồn của con người, tức là về duy trì cuộc sống con người để con người sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa phục vụ đời sống con người, như ngôn ngữ, chữ viết, ăn mặc ở. Thứ hai, theo nghĩa hẹp thì văn hóa được quan niệm quá trình con người sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của đời sống con người về vật chất và tinh thần. Tiêu biểu tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [30; tr10]. Định nghĩa này đã chỉ ra được một cách cụ thể hơn về các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra đó là các giá trị về vật chất và tinh thần nhưng quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa là quá trình con người tương tác với nhau và tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo nên các giá trị văn hóa.
Chính quan niệm này của tác giả về văn hóa qua đó đã khái quát lên đặc trưng cơ bản của văn hóa đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Bên cạnh đó còn có quan niệm việc sáng tạo các giá trị văn hóa còn thể hiện “dấu ấn” riêng của cá nhân, cộng đồng, dân tộc, của một quốc gia. Bởi vậy, nói đến các giá trị văn hóa còn nói đến cái riêng hay còn gọi là “bản sắc” văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng (…) các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [Dẫn theo 42; tr22]. Theo thời gian, từ “văn hóa” mang nhiều ý nghĩa mới.
Dù hiểu theo góc độ nào, theo nghĩa gốc hay hình thức biểu hiện thì văn hóa luôn đề cập đến các vấn đề: con người, xã hội, bản sắc, sáng tạo và sự phát triển. Trong phạm vi luận văn, văn hóa được hiểu theo định nghĩa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá là bản sắc, là đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Thông qua giao lưu văn hóa xã hội và hội nhập quốc tế, các nền văn hóa chắt lọc được tinh tú của nhau và ứng dụng vào nền văn hóa của mình.
Khái niệm ứng xử Vấn đề ứng xử trong các mối quan hệ xã hội giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, con người với gia đình và con người với chính mình, đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Tác giả trong cuốn “Tâm lý học ứng xử” đã nêu “ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong sự phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm của mỗi người nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao nhất" [2; tr 35]. Các ngành nghiên cứu tâm lý, từ góc độ tâm lý học, lại chủ yếu tìm hiểu, khai thác khái niệm ứng xử ở khía cạnh những quan hệ giao tiếp.
Xuất phát từ vỏ ngôn ngữ, họ cho rằng "ứng xử là một từ ghép của hai từ ứng và xử. Mà ứng xử lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau như: ứng phó, ứng đáp, ứng biến và xử sự, xử lý, xử thế” [32, tr 13]. Trên cơ sở đó, ứng xử được hiểu là cách xử thế nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng nào đó trong mối quan hệ giao tiếp. Dưới góc độ xã hội học, ứng xử được dùng để chỉ cách hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác (tức một cặp vai trò như vợ chồng, cha con, cấp trên/cấp dưới.) và đó là những hành động, hoặc gọi là phản ứng, theo một cách tương đối.
Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội khác nhau, mà ứng xử với mình, ứng xử với đô vậy, với tự nhiên. Theo một tác giả nhà nghiên cứu về văn hóa định nghĩa: “Ứng xử là triết lý sống của một cộng đồng người, là quan niệm sống, quan niệm lý giải cuộc sống. Nó trở thành lối sống, nếp sống của một cộng đồng người đó. Bởi vậy, nó quy định các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người.
Đó là tính nhân văn của các quan hệ” [30, tr 15]. Từ các cách hiểu và khái niệm trên, ta có thể xác định đặc trưng của ứng xử như sau: - Ứng xử được thể hiện bởi các cá nhân cụ thể, mỗi cá nhân có đặc điểm phát triển thể chất khác nhau nên ứng xử khác nhau. 15 - Ứng xử bao giờ cũng thực hiện trong các mối quan hệ nhất định và chịu sự chi phối của các quan hệ đó, ứng xử còn được điều tiết bởi vị trí xã hội mà cá nhân đó đảm nhiệm. - Trong ứng xử người ta chú ý đến nội dung công việc, đến mục đích giao tiếp từ đó có những biểu hiện cử chỉ, hành vi nhất định.
- Trong giao tiếp ứng xử, ngoài ứng xử bằng ngôn ngữ, lời nói ra chúng ta có thể ứng xử bằng cử chỉ phi ngôn ngữ, như hành vi, cử chỉ, ứng xử bằng xúc cảm, ứng xử bằng văn hóa. Qua hành vi ứng xử của con người có thể cho ta biết trình độ văn hóa cũng như phẩm chất đạo đức của người đó. Qua phân tích, có thể hiểu ứng xử là những phản ứng hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm truyền đạt, lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân, xã hội trong tình huống nhất định. Như vậy, ứng xử có thể hiểu là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước những tác động từ bên ngoài, từ người khác, sự vật, hiện tượng trong một tình huống nhất định được biểu hiện cụ thể thông qua các hành vi, thái độ, cử chỉ, cách nói năng của chính người đó.
Khái niệm văn hóa ứng xử Văn hóa ứng xử (VHUX) là khái niệm chỉ những sáng tạo về lĩnh vực ứng xử trong xã hội loài người và ứng xử giữa con người với vũ trụ. Ứng xử trong xã hội loài người hay ứng xử giữa con người với với con người, bao gồm hàng loạt hệ thống cộng đồng làng xã… cho đến ứng xử khác nhau như ứng xử trong gia đình, ứng xử trong họ tộc, ứng xử giữa các dân tộc, ứng xử giữa các quốc gia với nhau; mỗi hệ thống ứng xử có các nguyên tắc và cung cách riêng nhằm mục đích chung sống hữu hảo với nhau. Còn ứng xử giữa con người với vũ trụ, với thế giới tự nhiên cũng bao gồm rất nhiều hệ thống và vô cùng phong phú nhằm đạt mục đích cao là chung sống ổn định với tự nhiên. Văn hóa ứng xử theo nghĩa rộng: Là thái độ, hành vi ứng xử của con người, thể hiện triết lý sống, lối sống, suy nghĩ trong giải quyết các mối quan hệ của mình với tự nhiên và xã hội theo giá trị, chuẩn mực văn hóa nhất định.
16 Văn hóa ứng xử theo nghĩa nghĩa hẹp: Là thái độ, hành vi ứng xử của con người trong giải quyết các mối quan hệ với mình với tự nhiên và xã hội và ứng xử với mình theo những giá trị, chuẩn mực văn hóa phù hợp với yêu cầu và lợi ích xã hội. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử nhưng đã xác định nội hàm của khái niệm này.