Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC TẠI BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ UBND PHƯỜNG, THÀNH PHỐ TUY HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN 1. Khái quát chung về văn hóa ứng xử 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm văn hoá Hiện nay các nhà nghiên cứu về văn hóa, các tổ chức và các quốc gia trên thế giới đã công bố hàng trăm các định nghĩa về văn hóa. Thuật ngữ “văn hóa” hiện có nhiều quan niệm khác nhau do cách tiếp cận khác nhau.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu, vấn đề văn hóa đã được nhiều học giả quan tâm, nhìn nhận, đánh giá dưới các góc độ khác nhau. Một trong những người đưa ra khái niệm văn hóa sớm nhất là E.Taylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy (1887), ông quan niệm rằng : “Văn hóa là một phức hợp nhiều mặt, do con người tạo nên và mang tính xã hội” Theo học giả lỗi lạc người Pháp Édouard Herriot (1872-1957) cho rằng : “ Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”. Edward Burnett Tylor (1832-1917), một nhà khoa học Anh, cho rằng: “ Văn hóa là tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và các năng lực, thói quen khác mà con người với tư cách là thành viên của xã hội tiếp thu được ”. Theo Schwatz and Davis (1981): Văn hóa là một hình thức của các tín ngưỡng và tham vọng của các thành viên trong một tổ chức.
Những tín ngưỡng và tham vọng này tạo nên một quy tắc chung ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình 11 thành các hành vi cá nhân và nhóm người trong tổ chức. Theo từ điển tiếng thông dụng thì Văn hóa là “Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong quá trình lịch sử”. Theo cách tiếp cận này thì “Văn hóa” được hiểu là những sản phẩm phục vụ đời sống của con người cả về vật chất và phi vật chất, có sức sống lâu dài với thời gian. Theo “Tuyên bố về chính sách văn hóa”, UNESCO (1982), văn hóa được coi là “tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [37, tr. Theo Drennan (1992): Văn hóa là “ cách giải quyết công việc tại một nơi nào đó”. Đó là nét đặc trưng của mỗi tổ chức, là các thói quen, các quan điểm đang phổ biến. Giáo sư tâm lý học và quản lý tổ chức Edgar.H Schein giải thích : Văn hóa vừa là một hiện tượng năng động của hiện tại, vừa là một cấu trúc nền tảng mang tính cưỡng chế có ảnh hưởng đến chúng ta theo nhiều cách thức khác nhau.
Văn hóa luôn được thiết lập lại và được sáng tạo ra bởi sự tương tác với các cá nhân khác và bởi chính những hành vi của chúng ta. 12 Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [34, tr. Năm 1943 Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Tác giả Phạm Xuân Nam cho rằng: “Yếu tố hàng đầu của văn hóa là sự hiểu biết, bao gồm trí thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và mỗi thành viên trong cộng đồng ấy. Nhưng chỉ riêng sự hiểu biết thôi chưa làm nên văn hóa. Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, hành vi…) của mỗi cá nhân và cả cộng đồng hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ với mình, với người, với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên…” [29, tr.
Bản chất của văn hóa là quá trình chuẩn mực hóa nhu cầu con người, từ những hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ… để xây dựng nên mối quan hệ giữa con người với nhau: cha con, vợ chồng, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp… 13 Thông qua sự giao tiếp và đặc biệt là ứng xử, bản chất con người được hình thành rõ nét và đây cũng chính là cơ sở, là cái nôi để hình thành nên văn hóa. Từ rất nhiều khái niệm về “ văn hóa” được nêu trên, khái niệm văn hóa được xem xét với nghĩa hẹp là mặt tinh thần của đời sống văn hóa bao gồm những giá trị, chuẩn mực, biểu trưng, tri thức và ngôn ngữ của công chức; Hệ thống giá trị cộng đồng chi phối cách ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng tạo nên tổng thể giá trị và biểu hiện bản sắc của cộng đồng. Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. Do đó, văn hóa vừa mang nhiệm vụ chính trị xã hội vừa thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế, nó có tác động tích cực đối với nền kinh tế chính trị xã hội như một động lực quan trọng.
Mặt khác, văn hóa thúc đẩy cá nhân mỗi người hoàn thiện mình hơn, thực hiện tốt mọi công việc trong đời sống xã hội.2 Khái niệm ứng xử Vấn đề ứng xử trong các mối quan hệ xã hội giữa cá nhân với tự nhiên, cá nhân với xã hội, cá nhân với cá nhân và cá nhân với chính mình đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Một số tác giả sử dụng cùm từ ghép giao tiếp-ứng xử để nhấn mạnh tính gắn bó giữa hai thuật ngữ “ứng xử” với “giao tiếp” trong xã hội, nhấn mạnh ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với con người. Trong cuốn “Tâm lý học ứng xử” của Lê Thị Bừng, ứng xử là “sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua 14 thái độ, hành vi, cử chỉ, nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm của mỗi người nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao nhất” [3, tr.
Từ điển tiếng Việt thông dụng đưa ra khái niệm về ứng xử như sau: “Dưới góc độ xã hội học, ứng xử được dùng để chỉ cách hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác (tức một cặp vai trò như vợ/ chồng, cha/ con, cấp trên/ cấp dưới.) và đó là những hành động, hoặc gọi là phản ứng, theo một cách tương đối. Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội khác nhau, mà ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên” [31, tr. Trong thực tiễn tâm lý cũng như trong thực tiễn xã hội, “ứng xử được thể hiện trong một tình huống giao tiếp cụ thể, ứng xử không chủ động tạo ra hành động, nhưng chủ động trong thái độ, phản ứng trước những thái độ, hành vi, cử chỉ của người khác trong một tình huống cụ thể nào đó” [41, tr. Như vậy, từ các phân tích trên có thể hiểu: “Ứng xử là những hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm truyền đạt, lĩnh hội những tri thức kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân, xã hội trong tình huống nhất định”.3 Khái niệm văn hoá ứng xử Văn hóa ứng xử là một trong những dạng thức của văn hóa.
Thuật ngữ văn hóa ứng xử tại Việt Nam được đề cập đến trong quá trình xây dựng con người mới, đời sống văn hóa mới. Từ những phân tích về khái niệm “văn hóa” và khái niệm “ứng xử”, có thể thấy rằng có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “văn hóa ứng xử”. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử nhưng đã xác định nội hàm của 15 khái niệm này. Tác giả cho rằng, nội dung của văn hóa ứng xử là thái độ của cộng đồng với hai loại môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Với mỗi loại môi trường đều có cách xử thế phù hợp là: tận dụng và ứng phó môi trường. Các cộng đồng chủ thể trong văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trường xã hội (các quốc gia láng giềng…) Với loại môi trường đểu có cách thức xử thế phù hợp là: tận dụng môi trường (ảnh hưởng tích cực) và ứng phó với môi trường (ảnh hưởng tiêu cực) [35, tr16-17].