Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA THUỘC HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG 1. Những vấn đề chung về quản lý di tích lịch sử và văn hóa 1. Nghiên cứu một số khái niệm 1. Văn hóa và di sản văn hóa Khái niệm văn hóa: Đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học, lý luận về bất cứ lĩnh vực nào thì khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu, lý luận luôn là tiền đề điểm khởi đầu của các nhà nghiên cứu.
Văn hóa là một trong những lĩnh vực rộng lớn bởi vậy khái niệm về văn hoá cũng đa dạng, bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu. Theo thống kê về khái niệm văn hóa hiện nay thì có hơn 400 định nghĩa về văn hóa. Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến một số khái niệm tiêu biểu. Trước hết, chúng ta điểm qua định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh một nhận định về định nghĩa văn hóa hết sức hàm xúc: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [51, tr. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [74, tr. 11 Như vậy, với cách định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người trong sự tương tác với thế giới tự nhiên và xã hội. Có thể nói tổng hợp một cách khái quát rằng, văn hóa là sản phẩm của loài người mang tính truyền thống, được sản sinh và tái tạo trong quá trình phát triển quan hệ qua lại giữa con người và xã hội nhằm hướng con người đến hệ chuẩn “chân - thiện - mỹ”, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và các hoạt động văn hóa ấy cần có các nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính nhà nước để định hướng phát triển bền vững của mỗi quốc gia dân tộc. Di sản văn hóa (Cutulral Heritage) * Khái niệm Di sản văn hóa là thành tố quan trọng và là thông điệp từ quá khứ gửi lại cho các thế hệ mai sau. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, thuật ngữ di sản văn hóa được rất nhiều từ điển đề cập đến như: Trong Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCO ban hành năm 1972, tại điều 1 có quy định những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hoá” bao gồm: Di tích kiến trúc, nhóm công trình xây dựng và các di chỉ. Như vậy, khái niệm di sản có thể hiểu theo một nghĩa đơn giản đó là tính năng thuộc về nền văn hóa của một xã hội cụ thể, chẳng hạn như văn hoá, truyền thống, ngôn ngữ, hoặc các công trình, vật chất được tạo ra trong quá khứ và có tầm quan trọng trong lịch sử [17, tr.
Ở nước ta, năm 2001 Luật di sản văn hóa và Luật di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản năm 2009, quy định: “DSVH là 12 sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” [59, tr. Trong Từ điển Tiếng Việt tác giả Hoàng Phê: “Di sản là cái thời trước để lại; còn văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [56, tr. * Phân loại Theo cách định nghĩa của Luật Di Sản Việt Nam năm 2001, sửa đổi và bổ sung năm 2009 thì di sản văn hoá được chia thành di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, còn thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản.
Căn cứ trên giá trị của di sản để phân loại thành những nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay mức độ quan trọng cấp quốc tế, có giá trị cấp quốc gia và di sản có giá trị cấp địa phương. Phân loại di sản văn hóa theo giá trị bao gồm: Giá trị tự nhiên (không gian, cảnh quan môi trường); Giá trị Lịch sử - huyền thoại; Giá trị Tâm linh, tinh thần; Giá trị Kinh tế - Chính trị - xã hội Như vậy, di sản văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,… là sự kết tinh của các thế hệ người đi trước được lưu truyền qua các thế hệ và trở thành những tài sản vô giá có giá trị trong sự phát triển bền vững của xã hội được bảo tồn, phát triển và truyền trao cho các thế hệ kế tiếp. Đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, di sản văn hóa được xem là báu vật thiêng liêng mà mỗi thế hệ phải có trách nhiệm phát huy và bảo tồn cho các thế hệ tiếp theo. Một xã hội không thể tồn tại và phát triển nếu không dựa trên nền tảng các giá trị văn hoá.
Nhiều giá trị văn hóa đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một dân tộc, một quốc gia và có ảnh hưởng toàn cầu và đó là di sản văn hóa thế giới. Chính vì vậy mà mỗi 13 một quốc gia, dân tộc cần có sự quản lý, bảo tồn và phát triển các giá trị di sản ấy một cách có hiệu quả nhất góp phần làm giàu cho văn hóa dân tộc. Di tích và di tích lịch sử văn hóa Di tích * Khái niệm: Có nhiều khái niệm khác nhau về di tích, di tích LSVH, mỗi khái niệm đều mang ý nghĩa và diễn giải cụ thể. Theo Từ Điển Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành khảo cổ học, sử học…” [53, tr.
Ở Việt Nam, một di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tác giả Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt định nghĩa : Di tích là các dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu. Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa bất động [56, tr. Trong giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa của Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội lại định nghĩa “di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [26, tr.
Như vậy, di tích là một bộ phận của di sản văn hóa, là thành tố quan trọng của môi trường xã hội, góp phần vào việc giáo dục truyền thống cho cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày nay, di tích là thông điệp của quá khứ truyền lại cho thế hệ mai sau, nó có chức năng giáo dục và sống cùng với thời gian. * Phân loại: Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích) được chia thành : Di tích 14 nằm trong danh mục kiểm kê di sản văn hóa; Di tích cấp tỉnh; Di tích quốc gia; Di tích quốc gia đặc biệt. Căn cứ Điều 11, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa: “Di tích được phân thành: Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); Di tích kiến trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ; Di tích thắng cảnh” [23, tr. Di tích lịch sử văn hoá * Khái niệm: Tại điều I của Hiến chương Venice (1964) - Italia có định nghĩa: “Di tích lịch sử văn hóa không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử” [15, tr.
Luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về di tích lịch sử - văn hoá như sau: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [59, tr. Khái niệm di tích lịch sử, văn hoá không chỉ là những công trình xây dựng, địa điểm mà còn bao gồm các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia của công trình, địa điểm đó. Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, di tích lịch sử văn hóa đuợc hiểu là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa đuợc lưu lại” [87, tr. Như vậy có thể thấy, DTLS - VH là một trong những di sản văn hóa dân tộc, là nguồn sử liệu, tài sản quý giá có ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế.
* Cách phân loại: 15 Di tích lịch sử là một trong những lĩnh vực rộng lớn bởi vậy cách phân loại di tích cũng đa dạng.