Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa và tổng quan về khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Chương 2: Thực trạng quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân gắn với phát triển du lịch Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch 10 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỬA ĐẠT, HUYỆN THƢỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA 1. Cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử - văn hóa 1. Một số khái niệm cơ bản + Khái niệm Di tích Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm Di tích là những dấu tích, vết tích vật chất có giá trị trong quá khứ trải qua sự biến thiên của lịch sử, sự dầm mưa dãi nắng, qua thời gian còn tồn tại cho đến ngày nay [43].
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, những loại hình được coi như di tích là: - Di tích kiến trúc: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. - Nhóm công trình xây dựng: các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm di chỉ là các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [43]. 11 Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm di vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quí hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
Từ những cơ sở lý luận trên, tác giả luận văn nhận thấy khái niệm về di tích như sau: Di tích là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan; nó không những là sự kết tinh giữa cảnh quan thiên nhiên và những giá trị lao động do con người trong lịch sử sáng tạo ra mà còn chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học. + Khái niệm Di tích lịch sử - văn hóa (DT LS-VH) Trên thế giới có rất nhiều văn bản khác nhau đưa ra khái niệm về DT LS-VH, mỗi khái niệm đều có hàm nghĩa phong phú, đa dạng. Hiểu rõ về khái niệm DT LS-VH là hiểu rõ về thành tố quan trọng cấu thành nên di sản văn hóa. Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn trong đó được tìm thấy bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan trọng hay một sự kiện lịch sử.
Trong các cuốn Đại từ điển tiếng Việt, di tích lịch sử văn hóa được hiểu là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [45, tr. Theo Điều 1, Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ (thường được gọi là Hiến chương Venice) thì khái niệm di tích LSVH: Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử [27, tr. 12 Theo Luật Di sản Văn hóa do Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [40]. Ở đây, có thể hiểu rộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng… Theo điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định Di tích LSVH phải có một trong các tiêu chí sau: [40].
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [40, tr. Căn cứ điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa thì di tích được phân ra thành 04 loại hình [25]: Một là, di tích khảo cổ học gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; Hai là, loại hình di tích lịch sử bao gồm những công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, 13 nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Ba là, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình kiến trúc, nghệ thuật quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; n là, loại hình di tích danh lam, thắng cảnh. Cảnh quan thiên nhiên đ p hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù [25]. + Khái niệm Quản lý Có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về quản lý.
Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì [45, tr. Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [46, tr. Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựa vào các công cụ quản lý là các chính sách về luật pháp, chiến lược phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trình nghiên cứu khoa học… nhằm đạt được các mục đích đã đề ra. - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý.
Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định [46]. - Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý. Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau [46].
14 - Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội [46]. - Mục tiêu của quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Quản lý ra đời chính là nhằm đến mục tiêu hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong tất cả các lĩnh vực của xã hội [46].
Với những phân tích ở trên, tác giả luận văn nhận thấy khái niệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đ i tượng quản lý để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ th ng luật pháp và các quy định có tính pháp lý. + Khái niệm quản lý văn hóa Quản lý văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của quản lý, thường được hiểu là: Công việc của Nhà nước được thực hiện thống qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Ngoài ra, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn [34, tr. + Quản lý di tích lịch sử - văn hóa Quản lý DT LSVH còn là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS-VH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực.