Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA XÃ QUAN LẠN 1. Một số khái niệm cơ bản Văn hóa là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hoạt động của một chế độ xã hội. Trong xã hội có tổ chức, văn hóa nói chung cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của chế độ xã hội đó, của đất nước đó. Trong đó DTLSVH là một phần quan trọng trong lịch sử, chứng minh cho sự tồn tại, phát triển của một chế độ, một quốc gia, dân tộc, vì vậy nó cần được tôn trọng và bảo vệ.
Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế “xanh”, thì DTLSVH và danh lam thắng cảnh là một nguồn tài nguyên không bao giờ cạn kiệt, một tài sản vô giá cho sự phát triển của ngành du lịch và phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, đất nước. Đồng thời góp phần tích cực trong giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, phục vụ cho nghiên cứu khoa học. Trong phạm vi luận văn này, tôi chỉ xin nói đến hoạt động quản lý đối với một di tích lịch sử cụ thể, đó là quản lý khu DTLSVH đình, chùa, miếu, nghè xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Để có thể làm rõ được công tác quản lý đối với Khu di tích này, trước hết ta phải tìm hiểu một số khái niệm.
Quản lý Quản lý: Là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt được những mục tiêu nhất định [27, tr. Bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Quản lý là hoạt động khách quan nảy sinh khi cần nỗ lực 9 tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Trình độ dân trí của con người trong xã hội càng cao đòi hỏi công tác quản lý càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng lên. Hoạt động quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.
Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội. Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp.
Quản lý ra đời chính là nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất công việc [27, tr. Ngày nay, việc dùng thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, đặc biệt ở các nước phát triển, nhưng chưa có định nghĩa nào thống nhất. Tổng hợp các ý kiến chung từ nhiều định nghĩa có thể nói, quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đưa ra. Do vậy, theo chúng tôi, quản lý cần đảm bảo 2 yếu tố cơ bản là: Đối tượng thực hiện chức năng quản lý và đối tượng bị quản lý.
Chính vì thế, quản lý là một trong những khái niệm khá rộng, bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc 10 phòng… Ở lĩnh vực nào cũng cần có chức năng này, nhằm định hướng cho các chương trình, kế hoạch hoạt động đi đúng hướng, đúng lộ trình và thời gian đề ra, từ đó mang lại hiệu quả cao hơn trong việc thực hiện mục đích đề ra. Nhà nước là đại diện cho nhân dân để đảm bảo các quyền có trong Hiến pháp, trong đó có quyền về sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa. Nhà nước điều tiết sự hài hòa của cơ cấu văn hóa, lợi ích văn hóa của các nhóm xã hội, vùng miền, dân tộc, quốc gia trước các mâu thuẫn, các trào lưu văn hóa nảy sinh trong quá trình vận động và phát triển của dân tộc. Tức là, nhà nước thực hiện công tác quản lý trên lĩnh vực văn hóa.
Hiến pháp năm 1992, Chương 3, Điều 30 quy định: Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam: Dân tộc, hiện đại, nhân văn, kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh; Tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại; Phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong nhân dân; Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa. Quản lý văn hóa: Quản lý văn hóa là một thuật ngữ mới, chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nên chăng sử dụng thuật ngữ quản lý về lĩnh vực văn hóa, bởi lĩnh vực về văn hóa là khá rộng. Từ đó chữ “quản lý” có thể dùng ghép với bất kỳ một hoạt động nào cần có sự quản lý. Quản lý di tích văn hóa có thể được xem như là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý di tích văn hóa giúp di tích văn hóa tồn tại một cách bền vững không chỉ về chiều rộng mà còn về chiều sâu, nhằm góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý văn hóa không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể và quan trọng hơn là người 11 làm công tác quản lý phải biết “đánh thức” những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng. Quản lý nhà nước về văn hóa chính là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền vào bộ máy nhà nước để điều chỉnh các quá trình văn hóa, các hành vi hoạt động của công dân và mọi tổ chức trong xã hội để duy trì trật tự xã hội nhằm bảo toàn và phát triển quyền lực nhà nước trước các nhà nước khác và lịch sử. Di tích Di tích: Là những dấu tích, vết tích vật chất có giá trị trong quá khứ trải qua sự biến thiên của lịch sử, sự dầu mưa dãi nắng, qua thời gian còn tồn tại cho đến ngày nay. Quản lý di tích: Là quá trình tác động của chủ thể (Nhà nước, Bộ Văn hóa và Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh, Sở Văn hóa và Thể thao, chính quyền các cấp, các ngành) lên đối tượng quản lý (di tích, các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác di tích) bằng hoạch định cơ chế, chính sách, bằng pháp luật, bằng tổ chức, kiểm tra để nhằm mục đích bảo tồn và phát huy di tích.
Quản lý khu di tích: Là quá trình tác động của chủ thể (Nhà nước; Bộ Văn hóa và Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Văn hóa và Thể thao, chính quyền các cấp, các ngành) lên đối tượng quản lý (khu di tích; các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác khu di tích) bằng hoạch định cơ chế, chính sách, bằng pháp luật, bằng tổ chức, kiểm tra để nhằm mục đích bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích. Di tích lịch sử - văn hóa DTLSVH là một bộ phận quan trọng của DSVH dân tộc. Những DTLSVH này là những nguồn sử liệu trực tiếp, chứa đựng những thông tin quan trọng, những thông điệp của quá khứ để các thế hệ con cháu nghiên cứu, tìm hiểu, giải mã các trang sử hùng tráng của dân tộc. Đó là những tài 12 sản quý giá mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế.
Qua DTLSVH, ta hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi nước cũng đưa ra những khái niệm về DTLSVH của dân tộc mình. Điều 1, Hiến chương Vermice – Hiến chương Quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di (1964) đưa ra khái niệm: Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc, mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa.
Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về DTLSVH. Thông thường nhất theo từ điển Bách khoa thì: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là DSVH – lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [40, tr. Luật DSVH do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật DSVH 2009 quy định tại Điều 4: Di tích lịch sử-văn hóa: Là công trình xây dựng, địa điểm, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Cổ vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. Bảo vật quốc gia: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học [29, tr. 13 Đình: Là một công trình tín ngưỡng được cho là có từ thế kỷ 15, là nơi thờ Thành hoàng của làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn bạc các công việc của dân làng. Đình được coi như một trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn với một cộng đồng dân cư mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước.
Chùa: Là một công trình kiến trúc tôn giáo gắn với đạo Phật, là nơi hoạt động và truyền bá đạo phật. Là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng về đạo phật của các nhà sư, tăng, ni. Ở một số nơi, chùa còn là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị sư.