Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống di sản văn hóa tại tỉnh Quảng Ninh là nguồn tài nguyên vô giá với 615 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được kiểm kê tính đến tháng 12 năm 2017, bao gồm 4 khu di tích quốc gia đặc biệt và 54 di tích cấp quốc gia. Nằm trong không gian văn hóa biển đảo đặc sắc của huyện Vân Đồn – nơi sở hữu 51 di tích lịch sử, quần thể di tích lịch sử - văn hóa xã Quan Lạn gồm hệ thống đình, chùa, miếu, nghè được khởi dựng từ khoảng thế kỷ 17 và chính thức được xếp hạng di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 575-VH/QĐ ngày 24 tháng 7 năm 1990. Tuy nhiên, trước tác động khắc nghiệt của môi trường biển và áp lực phát triển du lịch, công tác quản lý di tích tại đây đang bộc lộ nhiều khó khăn về nguồn lực tu bổ và cơ chế vận hành.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nguyên trạng các yếu tố gốc của di tích và nhu cầu khai thác phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc khảo sát, phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với khu di tích từ năm 1990 đến năm 2018, từ đó xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị di sản phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ "nâu" sang "xanh" của tỉnh Quảng Ninh.

Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè trên địa bàn xã đảo Quan Lạn; phạm vi thời gian kéo dài từ năm 1990 đến năm 2018. Ý nghĩa nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để chuẩn hóa mô hình tổ chức cho Ban quản lý di tích cơ sở, bảo vệ không gian sống và sinh hoạt tâm linh cho hơn 3.945 nhân khẩu thuộc 745 hộ dân tại địa phương, đồng thời nâng cao hiệu suất bảo tồn kết cấu gỗ quý đạt trên 90% và phát huy giá trị lễ hội truyền thống 10 ngày trên đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Thuyết quản lý văn hóa nhà nước kết hợp với Thuyết bảo tồn di sản tích hợp và Thuyết quản lý dựa vào cộng đồng làm nền tảng lý luận. Mô hình nghiên cứu được xây dựng theo chu trình quản lý 4 giai đoạn khép kín: Hoạch định chính sách và lập quy hoạch; Tổ chức bộ máy và thực thi tu bổ; Kiểm tra, thanh tra và giám sát hiện vật; Huy động nguồn lực xã hội hóa và gắn kết phát triển du lịch.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cùng các nghị quyết chuyên đề của Đảng:

  1. Quản lý văn hóa: Sự tác động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên các hoạt động văn hóa nhằm duy trì trật tự, phát huy các giá trị chân - thiện - mỹ phục vụ xã hội.
  2. Quản lý di tích lịch sử - văn hóa: Quá trình cơ quan nhà nước và cộng đồng áp dụng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để bảo vệ, gìn giữ yếu tố gốc và khai thác hợp lý các giá trị lịch sử, khoa học, thẩm mỹ của di tích.
  3. Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo di tích: Các hoạt động chuyên môn kỹ thuật nhằm ngăn chặn sự xuống cấp, gia cố, phục dựng và bổ sung các thành phần mới tương thích với cấu trúc nguyên bản của di sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Di sản văn hóa, Nghị quyết số 33-NQ/TW, Quyết định số 4032/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh), hồ sơ khoa học xếp hạng di tích năm 1990 của Sở Văn hóa và Thể thao, tư liệu địa chí và kết quả khai quật khảo cổ học bến Cống Cái năm 2016 với hơn 26.000 di vật.

Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao quát toàn bộ 8 thôn của xã Quan Lạn (Đoài, Bắc, Đông Nam, Thái Hòa, Tân Phong, Tân Lập, Yến Hải, Sơn Hào). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu định tính có chủ đích, thực hiện phỏng vấn sâu 25 cán bộ quản lý văn hóa các cấp (Sở Văn hóa và Thể thao, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vân Đồn, cán bộ Ủy ban Nhân dân xã) và 30 bô lão, nghệ nhân am hiểu lễ hội tại địa phương. Phương pháp quan sát tham dự được tiến hành trực tiếp trong 1 kỳ lễ hội truyền thống kéo dài 10 ngày (từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 6 âm lịch).

Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp văn hóa học, nhân học văn hóa và phân tích quản lý học) là nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, cho phép đánh giá đa chiều cả giá trị vật thể của 58 cột gỗ quý lẫn giá trị phi vật thể trong diễn xướng dân gian tại một vùng biển đảo cách xa đất liền 50 km.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khu di tích lịch sử - văn hóa xã Quan Lạn sở hữu giá trị kiến trúc và lịch sử đặc biệt tiêu biểu. Cụm di tích gồm 1 ngôi đình, 1 ngôi chùa, 2 nghè và 4 ngôi miếu thờ danh tướng Trần Khánh Dư, 3 anh em tướng họ Phạm cùng các vị Tiên công lập làng. Riêng đình Quan Lạn được dựng bằng hệ thống 32 cột cái và 26 cột quân (tổng số 58 cột) hoàn toàn bằng gỗ mần lái – loại gỗ tứ thiết cứng hơn gỗ lim chỉ có tại núi đá đảo Ba Mùn. Đình hiện lưu giữ trọn vẹn 18 đạo sắc phong trải dài từ triều Thiệu Trị năm 1841 đến triều Duy Tân năm 1909 và là 1 trong 3 ngôi đình hiếm hoi tại miền Bắc bảo tồn được kiến trúc sàn gỗ độc đáo.

Thứ hai, bộ máy quản lý cơ sở đã từng bước được thể chế hóa nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế về tính chuyên nghiệp. Sau khi Ủy ban Nhân dân xã Quan Lạn ban hành Quyết định số 20/QĐ-UBND và Quy chế số 03/QC-BQLDT năm 2015, Ban Quản lý di tích xã được kiện toàn gồm đại diện chính quyền và các thôn làng. Dẫu vậy, hơn 80% thành viên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng chuyên sâu về bảo quản hiện vật mộc cổ và phòng chống mối mọt vùng ven biển.

Thứ ba, công tác bảo quản, tu bổ và cân đối nguồn lực tài chính gặp nhiều rào cản. Dù Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 444/2007/QĐ-UBND và Văn bản số 6871/UBND-VX1 năm 2017 về phê duyệt chủ trương tu bổ, ngân sách cấp từ nguồn vốn nhà nước mới chỉ đáp ứng khoảng 40% đến 50% nhu cầu cấp thiết, việc huy động tài trợ xã hội hóa còn mang tính mùa vụ và chưa hình thành quy chế kiểm toán độc lập.

Thứ tư, công tác tổ chức lễ hội truyền thống từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 6 âm lịch hàng năm duy trì tốt bản sắc văn hóa cổ truyền với tục đua thuyền giữa 2 giáp Văn và Võ. Tuy nhiên, các dịch vụ phụ trợ du lịch phục vụ hàng nghìn lượt khách tham quan trong mùa cao điểm vẫn phát triển tự phát, nguy cơ xâm hại cảnh quan sinh thái di tích còn hiện hữu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ vị trí địa lý xã đảo cách trung tâm huyện khoảng 50 km đường biển, làm chi phí vận chuyển vật tư và thi công tu bổ tăng cao hơn từ 30% đến 40% so với khu vực đất liền. Bên cạnh đó, việc thực thi Quyết định số 4032/QĐ-UBND về phân cấp quản lý di tích tại cấp xã còn lúng túng do thiếu biên chế chuyên trách văn hóa - di sản.

So sánh với các nghiên cứu về quản lý di sản tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, di tích Quan Lạn mang đậm tính tự trị cộng đồng làng xã với vai trò điều hành nổi bật của các dòng họ lớn (Phạm, Vũ, Nguyễn, Hoàng, Lê). Do đó, nếu chỉ áp dụng mệnh lệnh hành chính thuần túy mà thiếu cơ chế đồng quản lý với nhân dân sẽ làm giảm hiệu lực bảo tồn.

Dữ liệu thực trạng công tác bảo quản và huy động kinh phí có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cơ cấu nguồn vốn bảo tồn (thể hiện tỷ trọng ngân sách nhà nước 45%, nguồn công đức 35% và doanh nghiệp tài trợ 20%), kết hợp cùng bảng ma trận phân tích điểm mạnh, điểm yếu trong cơ chế vận hành để làm căn cứ lượng hóa hiệu quả đầu tư công.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện cơ chế phân cấp và quy chế phối hợp liên ngành: Ủy ban Nhân dân huyện Vân Đồn phối hợp cùng Sở Văn hóa và Thể thao ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết quy trình quản lý hiện vật, kiểm kê định kỳ 100% đồ thờ tự và 18 đạo sắc phong theo Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL; hoàn thành quy chế phối hợp trong giai đoạn 2019 - 2020.
  2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân sự quản lý cơ sở: Phòng Quản lý Di sản (Sở Văn hóa và Thể thao) chủ trì tổ chức tối thiểu 2 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm về kỹ thuật xử lý vi khí hậu, phòng ngừa nấm mốc và mối mọt cho trên 85% cán bộ văn hóa xã cùng thành viên Ban Quản lý di tích xã Quan Lạn từ năm 2019.
  3. Đẩy mạnh dự án tu bổ kỹ thuật và chống xuống cấp: Sở Xây dựng và Sở Văn hóa và Thể thao triển khai lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật theo Tờ trình số 1655/TTr-SVHTT, tập trung gia cố toàn diện 58 cột gỗ mần lái và thực hiện dự án tôn tạo nghè Trần Khánh Dư theo đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 đã duyệt, phấn đấu hoàn thành các hạng mục trọng điểm trong giai đoạn 2019 - 2023.
  4. Thiết lập quỹ bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch bền vững: Ủy ban Nhân dân xã Quan Lạn xây dựng đề án trích từ 15% đến 20% nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ lữ hành, bãi tắm và lưu trú trên đảo để tái đầu tư vào quỹ trùng tu di tích; công khai minh bạch 100% nguồn tiền giọt dầu, công đức giai đoạn 2020 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Văn hóa và Thể thao, Phòng Văn hóa và Thông tin: Nắm vững khung phân cấp quản lý theo Quyết định số 4032/QĐ-UBND, áp dụng bộ giải pháp kiện toàn Ban Quản lý di tích cấp xã vào công tác chỉ đạo thực tế tại các vùng hải đảo.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn xác về phương pháp luận kết hợp điền dã dân tộc học với đánh giá thể chế quản lý di tích cấp Quốc gia.
  3. Sinh viên ngành Văn hóa học, Lịch sử, Du lịch: Khai thác nguồn tư liệu lịch sử quý giá về 18 đạo sắc phong triều Nguyễn, kỹ nghệ dựng đình bằng gỗ mần lái và quy trình thực hành lễ hội truyền thống 10 ngày của cư dân biển đảo.
  4. Doanh nghiệp lữ hành và các nhà hoạch định chính sách du lịch: Vận dụng các kiến nghị về chuỗi liên kết giá trị văn hóa - du lịch để xây dựng các tour du lịch di sản bền vững tại 51 di tích của huyện Vân Đồn.

Câu hỏi thường gặp

Đặc trưng kiến trúc nổi bật nhất của đình Quan Lạn là gì? Đình Quan Lạn được khởi dựng từ thế kỷ 17 với toàn bộ hệ thống khung chịu lực gồm 32 cột cái và 26 cột quân làm bằng gỗ mần lái nguyên khối bền chắc, khai thác từ đảo Ba Mùn. Đây là 1 trong 3 công trình đình làng hiếm hoi ở miền Bắc còn lưu giữ kết cấu sàn gỗ cổ truyền độc đáo.

Lễ hội đình Quan Lạn phản ánh sự kiện lịch sử tiêu biểu nào? Lễ hội diễn ra từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 6 âm lịch hàng năm nhằm tái hiện chiến thắng oanh liệt năm 1288 của danh tướng Trần Khánh Dư khi đánh tan 100 thuyền lương của quân Nguyên Mông trên dòng sông Mang, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết giữ vững chủ quyền biển đảo của nhân dân địa phương.

Những khó khăn lớn nhất trong công tác bảo tồn di tích Quan Lạn là gì? Khó khăn lớn nhất là điều kiện hải đảo cách xa đất liền 50 km khiến kinh phí vận chuyển vật tư tăng cao từ 30% đến 40%, môi trường gió muối biển đẩy nhanh tốc độ mục ruỗng của 58 cột gỗ quý và trên 80% nhân sự quản lý cơ sở làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.

Hệ thống di vật tại di tích Quan Lạn có những giá trị lịch sử nào? Di tích lưu giữ trọn vẹn 18 đạo sắc phong từ đời vua Thiệu Trị năm 1841 đến vua Duy Tân năm 1909 ghi nhận công lao của Thành hoàng Không Lộ và tướng quân Trần Khánh Dư, cùng cuốn thần phả chữ Hán cổ ghi chép chi tiết các nghi lễ tế tự của cư dân 8 thôn làng đảo.

Luận văn đề xuất giải pháp tài chính đột phá nào cho việc tu bổ di tích? Tác giả đề xuất thành lập quỹ bảo tồn chuyên biệt với cơ chế trích lại từ 15% đến 20% doanh thu dịch vụ du lịch trên địa bàn xã đảo Quan Lạn, kết hợp công khai 100% các khoản thu công đức và huy động vốn xã hội hóa từ các tổ chức kinh tế giai đoạn 2020 - 2025.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật của quần thể di tích quốc gia đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn có niên đại từ thế kỷ 17.
  • Đánh giá khách quan thực trạng quản lý nhà nước tại 8 thôn xã đảo trong giai đoạn 1990 - 2018 theo Luật Di sản văn hóa.
  • Xác định rõ nguyên nhân cốt lõi gây xuống cấp 58 cột gỗ mần lái và rào cản tài chính do khoảng cách địa lý 50 km đường biển.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về phân cấp thể chế, đào tạo 85% nhân lực, quy hoạch tu bổ 1/500 và trích 15% đến 20% nguồn thu du lịch.
  • Định hướng chuyển đổi mô hình quản trị di sản văn hóa gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế biển xanh của tỉnh Quảng Ninh.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên dưới góc độ Quản lý văn hóa về quần thể di tích xã Quan Lạn, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách cơ sở. Lộ trình triển khai khuyến nghị chia làm 2 bước: giai đoạn 2019 - 2021 tập trung kiện toàn tổ chức, hoàn thiện quy chế; giai đoạn 2021 - 2025 hoàn thành các dự án trùng tu kỹ thuật và tích hợp sản phẩm du lịch di sản bền vững. Các nhà quản lý và nghiên cứu hãy khai thác ngay nguồn cơ sở dữ liệu quý báu này để tối ưu hóa hiệu quả bảo tồn di sản văn hóa biển đảo Việt Nam.