Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT TRUNG TÂM VĂN HÓA KINH BẮC 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm quản lý Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý.
Nếu hiểu theo âm Hán Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc. Đối với các nước phương Tây dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay, từ đó chuyển sang nghĩa là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt.Mác: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [10, t. Nhấn mạnh cho nội dung này ông viết: Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với khí quan độc lập của nó. Một Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 16 người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [10, t.Ăngghen cho rằng: “Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hợp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người” [11, t.
Hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý, tác động vào một đối tượng nhất định một cách có mục đích để duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng đó theo những mục tiêu đã định. Những quan điểm trên cho thấy, bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, do đó quản lý là một hoạt động khách quan để đảm bảo mục tiêu chung. Như vậy, có thể hiểu bản chất của quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các hoạt động quản lý, chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các công cụ và phương pháp thích hợp dựa trên các nguyên tắc nhất định.
- Đối tượng quản lý: là tất cả những gì chịu sự tác động của chủ thể quản lý trên cơ sở nguyên tắc và phương pháp nhằm đạt được mục tiêu và ý chí của chủ thể. - Mục tiêu của quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định theo kế hoạch, nguyên tắc và phương pháp của chủ thể quản lý. Trên cơ sở đó có thể hiểu: Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình theo những quy luật, định luật hay những quy tắc tương ứng nhằm để cho hệ thống hay quá trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước. Quản lý tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý “đúng ý chí của người quản lý” cũng đồng nghĩa với việc trả lời câu hỏi tại sao phải quản lý và Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 17 quản lý để làm gì.
Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những cá nhân, tổ chức này phải là những đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý. Khái niệm văn hóa Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người.
Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng sức mạnh để cai trị. Ở nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội. Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú.
Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.
Nhân phát động thập kỷ phát triển văn hóa, Tổng Giám đốc UNESCO F.Mayor đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 18 truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định các đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Định nghĩa còn cho thấy không phải hoạt động nào của con người cũng tạo nên giá trị văn hóa, chỉ có các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại, trải qua thời gian dài hàng thế kỷ mới tạo ra được các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu… cái mà người ta có thể coi là văn hóa của mỗi tộc người.
Định nghĩa này còn nhấn mạnh tính riêng của mỗi nền văn hóa, cổ vũ cho việc giữ gìn tính đa dạng của văn hóa thế giới, khuyến cáo nguy cơ suy thoái của các nền văn hóa dễ bị tổn thương trong làn sóng toàn cầu hóa, hệ lụy của cách thức phát triển kinh tế không tôn trọng yếu tố văn hóa vì con người. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lệch: quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật. Thực tế quản lý văn hóa không phải chỉ có thế. Để có thể nhìn nhận văn hóa một cách thiết thực hơn, chúng tôi quan tâm tới định nghĩa của Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật; Những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ấy tức là văn hóa [20, tập 2, tr. Định nghĩa này giúp chúng ta bổ sung đầy đủ hơn cách hiểu văn hóa với nghĩa khái quát và cả với nghĩa cụ thể của từng lĩnh vực hoạt động và Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 19 các yếu tố khác gắn liền với đời sống thường nhật của con người. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại. Văn hóa là khái niệm đa nghĩa.
Tuy nhiên từ góc độ tiếp cận về quản lý, có thể dễ dàng nhận thấy hai yếu tố quan trọng khi đề cập tới khái niệm văn hóa, đó là: hoạt động văn hóa và giá trị văn hóa. Trong quản lý văn hóa, cách tiếp cận này giúp phân loại các vấn đề cần quản lý có tính hệ thống và hoạt động quản lý sẽ cụ thể, hiệu quả hơn. Khái niệm quản lý văn hóa Từ khái niệm quản lý và văn hóa có thể hiểu “quản lý văn hóa” là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước. Quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân.